Le programme est en cours de mise à jour.
Session d'ouverture
Phần I: FTA và Lao động
-
NHỮNG THÁCH THỨC TRONG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ HẬU WTONhóm tác giả: ThS. Nguyễn Phượng An et al.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG: NHÌN NHẬN TỪ GÓC ĐỘ CHÍNH SÁCH HỘI NHẬPNguyễn Thị Thu HiềnTiến sĩ Luật quốc tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM (Email: hienngtt@ueh.edu.vn)
-
XU THẾ LỒNG GHÉP CAM KẾT LAO ĐỘNG VÀO CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI: GÓC NHÌN TỪ HOA KỲNguyễn Xuân Mỹ HiềnThS, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: nxmhien@hcmulaw.edu.vn)
-
YÊU CẦU VỀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO THẾ HỆ MỚI: CƠ CHẾ THỰC THI VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAMĐinh Thị Chiến; Nguyễn Khánh PhươngThs, Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: dtchien@hcmulaw.edu.vn) | Ths, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (Email: khanhphuong@ueh.edu.vn)
-
XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC THEO EVFTA VÀ CPTPP THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THỰC THI TẠI VIỆT NAMNguyễn Thị Kim CúcTh.S, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (Email: ntkcuc@hcmulaw.edu.vn )
-
SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM CỦA ILO, EVFTA, CPTPP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAMLường Minh Sơn; Lê Thanh BìnhGiảng viên Đại học Luật TP.HCM | Học viện Cán bộ TP.HCM
-
TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TỰ DO LIÊN KẾT VÀ THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ TRONG KHUÔN KHỔ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI – QUY ĐỊNH VÀ BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THỰC THI Ở VIỆT NAMTrần Thị Kiều TrangGiảng viên Bộ môn Luật Lao động, Đại học Luật Hà Nội và là nghiên cứu sinh tại Khoa Luật kinh doanh & Thuế, Đại học Monash, Australia, Email: trang.tran2@monash.edu ; trangttk@hlu.edu
-
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC THỰC THI TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG “XÓA BỎ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG VIỆC LÀM VÀ NGHỀ NGHIỆP” THEO MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH FTAS THẾ HỆ MỚI TẠI VIỆT NAMTS. Nguyễn Thị BíchGỉảng viên Khoa Luật Dân sự - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
SO SÁNH QUY ĐỊNH CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG VIỆC LÀM VÀ NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THIẾT CHẾ CỦA ILO, EVFTA, CPTPP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAMHoàng Thị Minh Tâm; Lê Thanh BìnhGiảng viên Đại học Luật TP.HCM | Học viện Cán bộ TP.HCM
Phần II: FTA và Môi trường
-
QUY ĐỊNH VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG CPTPP VÀ EVFTA – THÁCH THỨC TRONG ĐẢM BẢO THỰC THI TẠI VIỆT NAMTrần Thăng Long; Nguyễn Phượng AnPhó Giáo sư, Tiến sĩ luật học, P. Trưởng Khoa (phụ trách) Khoa Ngoại ngữ pháp lý, Đại học Luật TP.HCM (Email: ttlong@hcmulaw.edu.vn ) | Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP.HCM (Email: npan@hcmulaw.edu.vn )
-
THỰC THI CAM KẾT VỀ BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC BIỂN TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI CỦA VIỆT NAMPhạm Hồng Hạnh; Hà Thanh Hoà; Trần Thuý HằngTS. , Phó Trưởng bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội; Email: phamhonghanh@hlu.edu.vn ; | Ths, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Email: hathanhhoa@hlu.edu.vn ; | TS. , Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Email: tranthuyhang8085@gmail.com ;
-
THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CỦA EVFTA, CPTPP VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAMVõ Trung Tín; Trần Linh Huân; Lâm Vĩ KhangTiến sỹ, Trưởng Bộ môn Luật Đất đai – Môi trường, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: vttin@hcmulaw.edu.vn ) | Thạc sỹ, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: tlhuan@hcmulaw.edu.v n ) | Công ty Luật Sư Riêng (email: lamvikhang201100@ gmail.com )
-
THỰC THI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAMVõ Trung Tín; Nguyễn Lâm Trâm AnhTiến sỹ, Trưởng Bộ môn Luật Đất đai – Môi trường, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: vttin@hcmulaw.edu.vn ) | Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Trường Đại học Sài Gòn (email: nguyenlamtramanh@sgu.edu.vn )
-
THỰC THI CAM KẾT VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAMTrần Linh HuânThạc sĩ Luật, Khoa luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM
-
THỰC TIỄN THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ TẦNG Ô-DÔN TRONG HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (CPTPP) VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) CỦA VIỆT NAMThS. Phạm Thị Bắc Hà *Giảng viên bộ môn Công pháp quốc tế - Khoa Pháp luật quốc tế - Đại học Luật Hà Nội, Email: phambacha0205@gmail.com hoặc haptb@hlu.edu.vn
-
QUY ĐỊNH CỦA EVFTA, CPTPP VỀ MUA BÁN QUYỀN PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAMPhan Hoài Nam; Lê Minh Nhựt; Trần Hoàng Tú LinhTiến sĩ, Phó Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật.TPHCM (Email: phnam@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật.TPHCM (Email: lmnhut@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Luật Thương mại, Đại học Luật.TPHCM (Email: thtlinh@hcmulaw.edu.vn)
Phần III: FTA và SHTT
-
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI: VÀI KHUYNH HƯỚNG NỔI BẬT TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI KHU VỰC THẾ HỆ MỚITrần Thị Thùy DươngPGS. TS, Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tttduong@hcmulaw.edu.vn
-
CÁC THÁCH THỨC VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẶT RA CHO VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY ĐỊNH TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI THẾ HỆ MỚI VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆTS. Nguyễn Hồ Bích HằngNCS Hậu Tiến sĩ khoa Luật trường Đại học Đông Phần Lan (Postdoctoral Researcher, School of Law, University of Easte Finland), Giảng viên khoa Luật Dân sự trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh. Email: hang.nguyen@uef.fi
-
BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ NHẰM MỤC ĐÍCH BẢO VỆ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO VIỆT NAMLê Thị Nam GiangGiám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
CÁC CAM KẾT VỀ TIÊU CHUẨN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO EVFTA – THÁCH THỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAMTrần Linh Huân; Nguyễn Mậu ThươngThạc sĩ Luật, giảng viên, Khoa luật thương mại Trường Đại học Luật TP.HCM, Email: tlhuan@hcmulaw.edu.vn | Cử nhân Luật, chuyên viên pháp lý, Công ty Luật TNHH MTV Hoàng Thu, email: mauthuongtm39@gmail.com
-
CAM KẾT VỀ QUYỀN TÁC GIẢ THEO HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAMNguyễn Thị Bích Ngọc; Ngô Kim Hoàng Nguyên; Lê Minh NhựtTiến sĩ, Trưởng phòng Đào tạo Sau đại học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: ntbngoc@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin thư viện, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: nkhnguyen@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: lmnhut@hcmulaw.edu.vn)
-
CAM KẾT VỀ CÂN BẰNG GIỮA QUYỀN CỦA CHỦ THỂ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ LỢI ÍCH CỦA CÔNG CHÚNG TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ QUY ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ KHÔNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAMTS. Nguyễn Thị Bích Ngọc; TS. Nguyễn Thái Cường
-
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRUNG GIAN ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN THEO HIỆP ĐỊNH EVFTA – THÁCH THỨC CHO VIỆT NAMNguyễn Phương ThảoThS. , Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Email: npthao@hcmulaw.edu.vn
-
BẢO HỘ NHÃN HIỆU PHI TRUYỀN THỐNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC FTA THẾ HỆ MỚI - THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO VIỆT NAMHuỳnh Thị Thu Trang; Nguyễn Phượng AnThạc sĩ Luật, Giảng viên, Giám đốc Trung tâm QLĐT CLC và ĐTĐB, Trường Đại học Luật TP.HCM. Email: htttrang@hcmulaw.edu.vn | Thạc sĩ Luật, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP.HCM. Email: npan@hcmulaw.edu.vn
-
THỰC THI QUY ĐỊNH CPTPP VỀ CHIẾM DỤNG TÊN MIỀN GÂY NHẦM LẪN VỚI NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAMLê Trần Quốc Công; Nguyễn Đào Phương ThuýThạc sĩ, giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Email: ltqcong@hcmulaw.edu.vn | Thạc sĩ, giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM, Email: ndpthuy@hcmulaw.edu.vn
-
CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA - NHỮNG TÁC ĐỘNG VỀ MẶT CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝĐặng Nguyễn Phương Uyên; Nguyễn Tấn Hoàng Hải
-
QUY ĐỊNH VỀ BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG TRONG CPTPP VÀ EVFTA-NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THỰC THINguyễn Thái Cường; Nguyễn Thiện TâmTS. , Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP.HCM (Emai: ntcuong@hcmulaw.edu.vn) | Cao học Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự khóa 34, Trường Đại học Luật TP.HCM (Email: nttam21@gmail.com)
-
VAI TRÒ CỦA THANH TRA ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA VIỆT NAM VỀ THỰC THI CÁC CAM KẾT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚINguyễn Văn Trí; Nguyễn Tú AnhThạc sĩ, Phó trưởng Khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp.HCM; | Thạc sĩ, Phó trưởng phòng Thanh tra, Trường Đại học Luật Tp.HCM
Session 1: Child Labour & Forced Labour
-
CHALLENGE CONCERNING NEW GENERATION FTAS’ LABOUR PROVISIONS: PERSPECTIVE FROM THAILANDUsanee AimsiranunAsst. Prof. Dr. Usanee Aimsiranun, Faculty of Law, Chiang Mai University
-
VIETNAM’S FREE TRADE AGREEMENTS AND LABOUR ISSUES: FROM THE PERSPECTIVE OF INTEGRATION POLICYNguyễn Thị Thu HiềnPhD of Inte ational Law, School of Law, University of Economics HCMC (Email: hienngtt@ueh.edu.vn)
-
THE TRENDS OF INCLUSION OF LABOR COMMITMENTS IN TRADE AGREEMENT: PERSPECTIVE FROM THE UNITED STATESNguyễn Xuân Mỹ HiềnThS, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: nxmhien@hcmulaw.edu.vn)
-
REQUIREMENTS TO ABOLISH FORCED LABOR IN NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS: ENFORCEMENT MECHANISM AND SOLUTIONS FOR VIETNAMĐinh Thị Chiến; Nguyễn Khánh PhươngThs, Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: dtchien@hcmulaw.edu.vn) | Ths, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (Email: khanhphuong@ueh.edu.vn)
-
THE ELIMINATION OF FORCED LABOUR UNDER EVFTA AND CPTPP – CURRENT LEGAL SYSTEM AND MEASURES TO SECURE ITS IMPLEMENTATION IN VIETNAMNguyễn Thị Kim CúcLecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
A COMPARATIVE VIEW ON ELIMINATION OF CHILD LABOUR FROM ILO, EVFTA, CPTPP AND VIETNAMESE REGULATIONSLường Minh Sơn; Lê Thanh BìnhGiảng viên Đại học Luật TP.HCM | Học viện Cán bộ TP.HCM
-
LABOR STANDARDS “ELIMINATION OF DISCRIMINATION IN EMPLOYMENT AND OCCUPATION” ACCORDING TO A NUMBER OF NEW GENERATION FTAS IN VIETNAMTS. Nguyễn Thị BíchGỉảng viên Khoa Luật Dân sự - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
A COMPARATIVE VIEW ON THE INSTITUTIONS OF DISCRIMINATION IN OCCUPATION AND EMPLOYMENT FROM ILO, EVFTA, CPTPP AND VIETNAMESE REGULATIONSHoàng Thị Minh Tâm; Lê Thanh BìnhGiảng viên Đại học Luật TP.HCM | Học viện Cán bộ TP.HCM
-
IMPLEMENTING ENVIRONMENTAL AND LABOUR COMMITMENTS UNDER THE STRATEGIC TRADE AGREEMENTS OF VIETNAM IN THE POST-WTO ACCESSION PERIODTran Viet Dungssociate Professor, Dean of Int’l Law Faculty, HCMC University of Law
Session 2: Environment & Sustainable Dev
-
REGULATIONS ON SUISTAINABLE DEVELOPMENT AND BIOLOGICAL DIVERSITY RESERVATION IN CPTPP AND EVFTA – CHALLENGES IN ENSURING ITS IMPLEMENTATION IN VIETNAMTrần Thăng Long; Nguyễn Phượng AnPhó Giáo sư, Tiến sĩ luật học, P. Trưởng Khoa (phụ trách) Khoa Ngoại ngữ pháp lý, Đại học Luật TP.HCM (Email: ttlong@hcmulaw.edu.vn ) | Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP.HCM (Email: npan@hcmulaw.edu.vn )
-
THE IMPLEMENTATION OF COMMITMENTS ON THE CONSERVATION AND SUSTAINABLE USE OF MARINE BIODIVERSITY IN VIETNAM'S NEW GENERATION OF FREE TRADE AGREEMENTSPhạm Hồng Hạnh; Hà Thanh Hoà; Trần Thuý HằngTS. , Phó Trưởng bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội; Email: phamhonghanh@hlu.edu.vn ; | Ths, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Email: hathanhhoa@hlu.edu.vn ; | TS. , Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Email: tranthuyhang8085@gmail.com ;
-
IMPLEMENTATION OF REGULATIONS OF EVFTA, CPTPP ON DIVERSITY BIOLOGY IN VIETNAM ENVIRONMENTAL LAWVõ Trung Tín; Trần Linh Huân; Lâm Vĩ KhangTiến sỹ, Trưởng Bộ môn Luật Đất đai – Môi trường, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: vttin@hcmulaw.edu.vn ) | Thạc sỹ, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: tlhuan@hcmulaw.edu.v n ) | Công ty Luật Sư Riêng (email: lamvikhang201100@ gmail.com )
-
IMPLEMENTATION OF NEW GENERATION OF FREE TRADE AGREEMENTS RELATED TO CLIMATE CHANGE IN VIETNAMVõ Trung Tín; Nguyễn Lâm Trâm AnhTiến sỹ, Trưởng Bộ môn Luật Đất đai – Môi trường, Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (email: vttin@hcmulaw.edu.vn ) | Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Trường Đại học Sài Gòn (email: nguyenlamtramanh@sgu.edu.vn )
-
IMPLEMENTATION OF THE EVFTA CLIMATE CHANGE COMMITMENT AND SOME ISSUES FOR VIETNAMTrần Linh HuânThạc sĩ Luật, Khoa luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP.HCM
-
IMPLEMENTAION OF REGULATIONS ON PROTECTION OF THE OZONE LAYER IN COMPREHENSIVE AND PROGRESSIVE AGREEMENT FOR TRANS-PACIFIC PARTNERSHIP (CPTPP) AND EUROPEAN-VIETNAM FREE TRADE AGREEMENT (EVFTA) OF VIETNAMThS. Phạm Thị Bắc Hà *Giảng viên bộ môn Công pháp quốc tế - Khoa Pháp luật quốc tế - Đại học Luật Hà Nội, Email: phambacha0205@gmail.com hoặc haptb@hlu.edu.vn
-
REGULATIONS OF EVFTA, CPTPP ON GREENHOUSE GAS EMISSION RIGHTS AND CHALLENGES OF VIETNAMPhan Hoài Nam; Lê Minh Nhựt; Trần Hoàng Tú LinhPh.D., Deputy Head, Faculty of Inte ational Law, Ho Chi Minh City University of Law | LL.M., Lecturer, Faculty of Inte ational Law, Ho Chi Minh City University of Law | LL.M., Lecturer, Faculty of Commercial Law, Ho Chi Minh City University of Law
Session 3: IP & Human Rights
-
PROTECTION OF INTELLECTUAL PROPERTY AND HUMAN RIGHTS GUARANTEE: CERTAIN NOTABLE TRENDS IN NEW GENERATION REGIONAL TRADE AGREEMENTSTrần Thị Thùy DươngPGS. TS, Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tttduong@hcmulaw.edu.vn
-
SUSTAINABLE DEVELOPMENT CHALLENGES FOR VIETNAM IN IMPLEMENTING NEW GENERATION TRADE AGREEMENTS ON INTELLECTUAL PROPERTY RIGHTS PROTECTIONDr. Nguyen Ho Bich HangPostdoctoral Researcher, School of Law, University of Easte Finland, Email: hang.nguyen@uef.fi, Civil Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
PATENT COMPULSORY LICENSING TO PROTECT PUBLIC HEALTH IN NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS- OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAMLê Thị Nam GiangGiám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
COMMITMENTS ON STANDARDS FOR PROTECTION OF INDUSTRIAL PROPERTY RIGHTS UNDER EVFTA – CHALLENGES AND SOME SOLUTIONS FOR VIETNAMTrần Linh Huân; Nguyễn Mậu ThươngThạc sĩ Luật, giảng viên, Khoa luật thương mại Trường Đại học Luật TP.HCM, Email: tlhuan@hcmulaw.edu.vn | Cử nhân Luật, chuyên viên pháp lý, Công ty Luật TNHH MTV Hoàng Thu, email: mauthuongtm39@gmail.com
-
COMMITMENT TO COPYRIGHT UNDER VIETNAM - EU FREE TRADE AGREEMENT (EVFTA) AND VIETNAM LAWNguyễn Thị Bích Ngọc; Ngô Kim Hoàng Nguyên; Lê Minh NhựtTiến sĩ, Trưởng phòng Đào tạo Sau đại học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: ntbngoc@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin thư viện, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: nkhnguyen@hcmulaw.edu.vn) | Thạc sĩ, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Email: lmnhut@hcmulaw.edu.vn)
-
IMPLEMENT THE COMMITMENT TO BALANCE BETWEEN THE RIGHTS OF COPYRIGHT HOLDERS AND THE INTERESTS OF THE PUBLIC IN THE EVFTA AGREEMENT AND PROVIDE FOR EXCEPTIONS FOR NON-INFRINGEMENT OF COPYRIGHT IN VIETNAMESE LAWTS. Nguyễn Thị Bích Ngọc; TS. Nguyễn Thái Cường
-
LIABILITY OF INTERMEDIARY SERVICE PROVIDERS FOR COPRYRIGHT AND RELATED RIGHT INFRINGEMENT UNDER EVFTA - CHALLENGES FOR VIETNAMNguyễn Phương ThảoThS. , Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Email: npthao@hcmulaw.edu.vn
-
NON-TRADITIONAL TRADEMARK PROTECTION UNDER THE NEW GENERATION FTA REGULATIONS - CHALLENGES AND OPPORTUNITIES FOR VIETNAMHuỳnh Thị Thu Trang; Nguyễn Phượng AnThạc sĩ Luật, Giảng viên, Giám đốc Trung tâm QLĐT CLC và ĐTĐB, Trường Đại học Luật TP.HCM. Email: htttrang@hcmulaw.edu.vn | Thạc sĩ Luật, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP.HCM. Email: npan@hcmulaw.edu.vn
-
THE IMPLEMENTATION OF CPTPP RELATING TO CYBERSQUATTING CAUSED CONFUSION WITH A PROTECTED TRADEMARK IN VIETNAMLê Trần Quốc Công; Nguyễn Đào Phương ThuýLL.M, Lecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
VIETNAM'S COMMITMENT IN EVFTA - IMPACTS ON INTELLECTUAL PROPERTY LEGAL POLICY ON GEOGRAPHICAL INDICATIONSĐặng Nguyễn Phương Uyên; Nguyễn Tấn Hoàng Hải
-
REGULATIONS ON PLANT VARIETIES PROTECTION IN CPTPP AND EVFTA - VIETNAM’S CHALLENGES IN IMPLEMENTATIONNguyễn Thái Cường; Nguyễn Thiện TâmTS. , Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP.HCM (Emai: ntcuong@hcmulaw.edu.vn) | Cao học Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự khóa 34, Trường Đại học Luật TP.HCM (Email: nttam21@gmail.com)
-
THE ROLE OF INSPECTORS TO VIETNAM'S RESPONSIBILITIES FOR IMPLEMENTATION OF INTELLECTUAL PROPERTY COMMITMENTS IN NEW- GENERATION FREE TRADE AGREEMENTSNguyễn Văn Trí; Nguyễn Tú AnhThạc sĩ, Phó trưởng Khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp.HCM; | Thạc sĩ, Phó trưởng phòng Thanh tra, Trường Đại học Luật Tp.HCM
Session de clôture
Les informations sur les intervenants sont en cours de mise à jour.
Phần I: FTA và Lao động
Phát triển bền vững đang ngày càng trở thành một chủ đề quan tâm của cộng đồng quốc tế. Các quốc gia cũng nhìn nhận rằng mở rộng thương mại quốc tế thường có những tác động đến môi trường, vì thương mại xuyên biên giới có thể tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với những nỗ lực quốc tế để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cũng có thể góp phần bảo vệ môi trường khi các quốc gia thành viên của định chế thương mại thống nhất đặt ra các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong các quy trình thủ tục đầu tư, thương mại; hay tăng cường sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, công nghệ và bí quyết thân thiện với môi trường.
Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng chủ động trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền trong lĩnh vực lao động thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA). Quan điểm của Việt Nam là “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, đồng thời hội nhập quốc tế về lao động được “triển khai đồng bộ với hội nhập kinh tế quốc tế” [1] . Với định hướng đó, chính sách hội nhập của Việt Nam được xây dựng một cách thống nhất theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và dựa trên một chiến lược tổng thể do Chính phủ ban hành. Có thể thấy, việc đưa vấn đề lao động vào trong các FTA của Việt Nam chính là sự thể hiện và cụ thể hoá những nội dung tương ứng trong chính sách hội nhập. Trong bài viết này, tác giả sẽ tập trung làm rõ nội dung chính sách hội nhập nói chung và hội nhập quốc tế về lao động nói riêng của Việt Nam, đánh giá về sự phù hợp của các quy định và cam kết về vấn đề lao động trong các FTA với chính sách hội nhập của Việt Nam và thực tiễn triển khai để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm tận dụng và phát huy hiệu quả việc thực thi những quy định và cam kết về vấn đề lao động trong khuôn khổ các FTA để có thể thực hiện thành công chính sách hội nhập và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Từ khoá : FTA, vấn đề lao động, chính sách hội nhập
Với mục tiêu khắc phục những mặt trái của toàn cầu hóa đối với bảo vệ quyền lao động, hiện nay, nhiều Hiệp định thương mại tự do ( Free Trade Agreement- FTA) thế hệ mới đã ghi nhận các quy định về lao động, tạo ra trào lưu lồng ghép các điều khoản lao động vào các FTA thế hệ mới. Cùng với Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ là một trong hai đại diện tiêu biểu nhất, tiên phong tạo lập nên khuôn mẫu mới cho nội dung điều khoản liên quan đến lao động trong các FTA. Bài viết tập trung phân tích và so sánh hướng tiếp cận của Hoa Kỳ khi lồng ghép các điều khoản về tiêu chuẩn lao động vào FTA, thông qua việc trình bày mục tiêu, các quy định về nội dung và vấn đề thực thi các điều khoản lao động. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá tác động của các trào lưu này đối với mục tiêu bảo vệ quyền lao động. Từ khóa : lao động; quy định phi thương mại; thực thi; hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Hoa Kỳ
Một trong những cam kết quan trọng của Việt Nam về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu là loại bỏ tất cả các hình thức cưỡng bức lao động (CBLĐ) như được quy định trong Công ước số 29 và 105 của ILO. Việc thực thi cam kết này là một yêu cầu quan trọng không chỉ nhằm bảo vệ quyền cơ bản của người lao động, mà còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng hiệu quả vào các sân chơi quốc tế, đồng thời tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững và hội nhập của Việt Nam. Bài tham luận sẽ phân tích các tiêu chí để nhận diện CBLĐ theo quy định của ILO, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về CBLĐ; phân tích các nguyên nhân và thực trạng của CBLĐ tại Việt Nam; trên cơ sở đó, bài tham luận cũng sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm đảm bảo việc thực thi cam kết về xoá bỏ CBLĐ tại Việt Nam. Từ khóa : Lao động cưỡng bức, Công ước 29, Công ước 105, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, không ngừng đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hoạt động mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện ở nhiều cấp độ khác nhau, đặc biệt là đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Bên cạnh các vấn đề thương mại truyền thống, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới còn đề cập đến các vấn đề phi thương mại như lao động, cụ thể là các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Bài viết nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến tiêu chuẩn xóa bỏ lao động cưỡng bức – một trong bốn tiêu chuẩn lao động quốc tế trong hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới chiến lược mà Việt Nam là thành viên nói riêng, bao gồm Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership - CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU- Vietnam Free Trade Agreement -EVFTA). Đặc biệt, bài viết đi sâu phân tích, đánh giá, bình luận những điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật lao động Việt Nam và hai hiệp định thương mại tự do nói trên về xóa bỏ lao động cưỡng bức, qua đó kiến nghị một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả nghĩa vụ này. Từ khóa: lao động cưỡng bức, EVFTA, CPTPP, pháp luật lao động Việt Nam
Từ lâu, bóc lột lao động trẻ em đã trở thành vấn đề được quan tâm ở nhiều cấp độ khác nhau, vì những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền của trẻ em được bảo vệ và phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần cũng như nguy cơ làm nguy hại lực lượng lao động của nền kinh tế. Để đối phó với những rủi ro này, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã phát triển hai văn kiện pháp lý quan trọng là Công ước số 138 năm 1973 về Tuổi tối thiểu được lao động, và Công ước số 182 năm 1999 về Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Không chỉ vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, các quốc gia đã chứng kiến nhiều hiệp định tự do thương mại (FTA) thế hệ mới ra đời tiếp tục khẳng định sứ mệnh xóa bỏ lao động trẻ em. Thông qua việc phân tích và so sánh các Công ước của ILO, các FTAs và pháp luật Việt Nam, bài viết đánh giá khả năng thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về xóa bỏ lao động trẻ em, từ đó đề xuất một số kiến nghị giúp tăng hiệu quả thực thi các cam kết này. Từ khóa : lao động trẻ em, ILO, EVFTA, CPTPP, pháp luật lao động.
Sau 35 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập ngày một sâu rộng và nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã tham gia vào các thể chế kinh tế song phương và đa phương, mà đặc biệt gần đây là việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Từ cách tiếp cận đảm bảo thương mại công bằng, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ngoài việc ghi nhận các nội dung liên quan tới thương mại nói chung thì còn bao hàm việc đảm bảo các tiêu chuẩn lao động cơ bản. Trong những tiêu chuẩn lao động cơ bản này, tiêu chuẩn về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể là nội dung được quan tâm hàng đầu và cũng là trọng tâm sửa đổi Bộ luật lao động ở Việt Nam thời gian qua. Bài viết sẽ phân tích mức độ phù hợp của pháp luật Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chuẩn lao động quốc tế về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể được ghi nhận trong Công ước 87 và Công ước 98 của Tổ chức lao động quốc tế. Qua đó, bài viết cũng sẽ lý giải những điểm tiến bộ, thể hiện mạnh mẽ cam kết của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, đồng thời chỉ ra những thách thức trong việc thực thi các tiêu chuẩn lao động nêu trên trong thời gian tới.
Việt Nam là một trong số các quốc gia có khung luật pháp tương đối toàn diện về bảo vệ bình đẳng trong lao động. Điều đó vừa thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước Việt Nam, vừa phản ánh nỗ lực của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đối với việc hiện thực hoá các công ước quốc tế của ILO trong luật quốc gia. Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn một số hiệp định thế hệ mới mang tính chiến lược như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) – EVFTA. Các FTAs mới sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển thị trường cho Việt Nam nhưng đồng thời đặt ra nhiều thách thức mới cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật, đặc biệt là lĩnh vực luật lao động. Để các nội dung đã cam kết trong hai Hiệp định trên được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn, Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, theo lộ trình đã cam kết. Điều này tác động không nhỏ đến hệ thống pháp luật lao động Việt Nam, bởi một trong các nội dung quan trọng mà hai Hiệp định này hướng tới đều bao gồm vấn đề về lao động với trọng tâm là các vấn đề như: i) Tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể; ii) Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc; iii) Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em; iv) Xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Trong đó, vấn đề xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp là một trong bốn tiêu chuẩn cốt lõi của ILO, thể hiện quan điểm nhất quán coi bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử là một yêu cầu trong việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ trình bày những vấn đề pháp lý và thách thức trong việc thực thi tiêu chuẩn lao động “xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” theo các hiệp định FTAs thế hệ mới tại Việt Nam. Bài viết có kết cấu gồm 04 phần: (1) Một số vấn đề pháp lý về tiêu chuẩn lao động “xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp”; (2) Tiêu chuẩn lao động “xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” theo một số FTAs thế hệ mới mà Việt Nam đã phê chuẩn (cụ thể là Hiệp định CPTPP và EVFTA); (3) Đánh giá tính tương thích của pháp luật lao động Việt Nam với tiêu chuẩn lao động “xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” theo một số FTAs thế hệ mới mà Việt Nam đã phê chuẩn; (4) Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tiêu chuẩn lao động “xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” theo một số FTAs thế hệ mới tại Việt Nam. Từ khóa : tiêu chuẩn lao động, phân biệt đối xử, chống phân biệt đối xử, việc làm và nghề nghiệp
Phân biệt đối xử là một trong những vấn đề được tranh luận sôi nổi nhất trong các diễn đàn pháp lý – chính trị. Phân biệt đối xử là hiện tượng cần được hạn chế và loại bỏ nhằm đạt được sự công bằng và bình đẳng cho mọi người - là những giá trị mà bất kỳ nhà nước tiến bộ nào cũng hướng đến. Trong lao động, được đối xử tôn trọng và công bằng là động lực để người lao động tiếp tục đóng góp sức lực, trí tuệ cho các hoạt động kinh tế. Là tổ chức đại diện cho người lao động lớn nhất thế giới, ILO đã thể hiện quan điểm tiến bộ bằng việc xác định nguyên tắc trả công bình đẳng cho công việc có giá trị ngang nhau cũng như định nghĩa hành vi phân biệt đối xử trong lao động. Bên cạnh đó, các hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam đã tham gia gần đây như CPTPP, EVFTA tiếp tục nhấn mạnh vai trò của các bên trong loại bỏ nạn phân biệt đối xử trong lao động. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ phân tích, đối chiếu các cam kết kể trên và pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này, từ đó định hướng cụ thể việc nội lực hóa các cam kết này. Từ khóa: phân biệt đối xử, lao động, ILO, FTA, luật lao động.
Phần II: FTA và Môi trường
Bên cạnh mối quan tâm liên quan đến thúc đẩy hợp tác và phát triển thương mại, các FTA thế hệ mới còn dành một phần nội dung để quy định về các vấn đề phi thương mại, trong đó có phát triển bền vững. Phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, tôn trọng các quyền con người…để không làm tổn hại đến thế hệ tương lai. Bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những nội dung quan trọng để đảm bảo phát triển bền vững. Trong phạm vi bài viết, các tác giả sẽ phân tích vai trò của bảo tồn đa dạng sinh học đối với phát triển bền vững, từ đó nghiên cứu các quy định trong CPTPP, EVFTA và (iii) phương thức các quốc gia thành viên thực thi những quy định này để bảo tồn đa dạng sinh học vì mục đích phát triển bền vững. Đồng thời, chúng tôi cũng đánh giá sự tương thích quy định về bảo tồn đa dạng sinh học trong pháp luật Việt Nam và nội dung của EVFTA, CPTPP nhằm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện. Từ khóa: FTA thế hệ mới, EVFTA, CPTPP, phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường
Như nhiều quốc gia ven biển khác, Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn trong bảo tồn đa dạng sinh học biển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là các hành vi khai thác thiếu bền vững đối với thuỷ sản. Việc khai thác quá mức ngày càng tăng dẫn đến sự suy giảm các loài cá, đồng thời có thể tác động mạnh mẽ đến đặc tính sinh lý của các loài cá như suy giảm khối lượng cơ thể, dẫn tới thay đổi trong chu kỳ sinh sản và khả năng phục hồi đàn cá, chuỗi thức ăn và hệ sinh thái biển. Vấn đề môi trường, trong đó có đa dạng sinh học, đã được ghi nhận trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, điển hình là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu. Ngoài quy định chung về đa dạng sinh học, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học biển được điều chỉnh trực tiếp bằng quy định về quản lý tài nguyên sinh vật biển với những điều khoản liên quan đến bảo tồn, khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển. Nội dung bài viết sẽ phân tích thực tiễn thực thi cam kết của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới về bảo tồn đa dạng sinh học biển đối với tài nguyên thuỷ sản nhằm chỉ ra những kết quả tích cực đã đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình thực thi cam kết, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực này. Từ khoá : Bảo tồn tài nguyên cá; giám sát tàu cá; IUU.
Bài viết phân tích các nội dung về đa dạng sinh học được đề cập trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam (EVFTA); các quy định pháp luật môi trường liên quan đến đa dạng sinh học của Việt Nam nhằm thể chế hai Hiệp định này, chỉ ra một số thách thức của Việt Nam trong việc thực thi các cam kết, từ đó đưa ra một số giải pháp để Việt Nam nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết này. Từ khóa: Đa dạng sinh học, cam kết môi trường về đa dạng sinh học, Việt Nam, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam.
Bài viết phân tích các nội dung liên quan đến biến đổi khí hậu như một nguyên tắc và cam kết chung về môi trường được đề cập trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam (EVFTA); các quy định pháp luật môi trường của Việt Nam nhằm thể chế hai Hiệp định này và đưa ra một số khuyến nghị. Từ khóa: Biến đổi khí hậu, Luật BVMT, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam.
EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc gia nhập hiệp định EVFTA được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho Việt Nam, tuy nhiên bên cạnh đó thì điều này cũng để lại không ít khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc tuân thủ thực thi các cam kết về biến đổi khí hậu trong hiệp định này. Xuất phát từ thực tế đó, bài viết tập trung phân tích làm rõ các cam kết về biến đổi khí hậu trong hiệp định EVFTA, chỉ ra một số thách thức mà Việt Nam sẽ gặp phải khi tuân thủ thực thi các cam kết này, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện . Từ khóa: Hiệp định EVFTA, biến đổi khí hậu, chính sách, pháp luật, môi trường, Việt Nam.
Đặc điểm chung của các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới là có phạm vi điều chỉnh rộng, vượt ra ngoài những vấn đề thương mại thông thường. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là hai FTAs thế hệ mới có phạm vi điều chỉnh toàn diện nhất với mức độ cam kết rộng và cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Nhận thức sâu sắc vấn đề phát triển bền vững, trong đó bao gồm mối quan hệ giữa chính sách thương mại và môi trường, vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ tầng ô-dôn nói riêng đã được quy định trong các hiệp định này. Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thực thi các cam kết bao gồm cả các cam kết về bảo vệ tầng ô-dôn. Bên cạnh những kết quả nhất định đã đạt được, việc thực thi các cam kết của Việt Nam vẫn còn những phải đối mặt với những thách thức. Từ việc phân tích những yêu cầu trong thực thi cam kết bảo vệ tầng ô-dôn trong CPTPP và EVFTA, bài viết sẽ đánh giá thực tiễn thực thi của Việt Nam, và trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực này. Từ khóa: CPTPP, Bảo vệ tầng ô-dôn, thực thi CPTPP.
Bài viết phân tích quy định về mua bán quyền phát thải khí nhà kính theo quy định của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, Nghị định thư Kyoto năm 1997 và Thỏa ước Paris năm 2015 – được xem là những thiết chế truyền thống của luật môi trường quốc tế về vấn đề này. Đồng thời, bài viết sẽ phân tích về các quy định của các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên: CPTPP, EVFTA; bên cạnh việc rà soát, đánh giá, so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam và một số quốc gia có liên quan, từ đó đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Từ khóa: CPTPP, EVFTA, UNFCCC, Nghị định thư Kyoto, Thỏa thuận chung Paris, mua bán quyền phát thải, Carbon Credit.
Phần III: FTA và SHTT
Khi nghiên cứu các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các hiệp định thương mại thế hệ mới, có thể thấy 2 khuynh hướng chính. Thứ nhất, các quy định WTO+ đang xuất hiện, tăng cường việc bảo hộ các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời có nguy cơ ảnh hưởng đến một số quyền con người. Thứ hai, các ngoại lệ góp phần bảo đảm quyền con người lại khá mờ nhạt. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc thực hiện mục đích của Hiệp định TRIPs: hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của các bên, giữa lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế ; đồng thời đem lại lợi ích không chỉ cho người tạo ra, mà cả người sử dụng kiến thức công nghệ. Từ khóa: quyền con người, bảo hộ sở hữu trí tuệ, khuynh hướng, hiệp định thương mại khu vực thế hệ mới
Việc Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại thế hệ mới cho thấy sự nỗ lực không ngừng của Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển đất nước một cách toàn diện. Các hiệp định thương mại thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội mới đồng thời cũng chứa đựng nhiều thách thức cho Việt Nam. Tuy việc thực thi các cam kết về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các hiệp định thương mại là nghĩa vụ của các bên, nhưng làm cách nào để hài hoà và đảm bảo sự phát triển bền vững của Việt Nam khi tham gia các hiệp định thương mại đó là sự thách thức cho các nhà làm luật và chính sách. Bài viết này phân tích các thách thức phát triển bền vững mà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình thực hiện các hiệp định thương mại thế hệ mới về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Từ khoá: phát triển bền vững, sở hữu trí tuệ, CPTPP, EVFTA, thách thức, thực thi
Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (BCGQSDSC) là sự cho phép sử dụng sáng chế từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không phụ thuộc vào ý chí của người nắm độc quyền sáng chế. Là một trong những trường hợp hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế, BCGQSDSC được quy định trong pháp luật quốc tế và trong pháp luật nhiều quốc gia, bao gồm pháp luật Việt Nam. Trong nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, BBCGQSDSC được ghi nhận, mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia đang phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bài viết dưới đây sẽ tập trung phân tích một số nội dung sau; (i) Quy định của CPTPP và EVAFTA về BBCGQSDSC nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng; (ii) Những tác động tích cực và tác động tiêu cực của BBCGQSDSC; (iii) Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam và các quốc gia đang phát triển trong việc áp dụng BBCGQSDSC nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng; (iv) Quy định của pháp luật Việt Nam về BBCGQSDSC vì mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng. BBCGQSDSC vì các mục đích khác như BBCGQSDSC nhằm hạn chế sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu sáng chế, BBCGQSDSC vì mục đích sử dụng sáng chế phụ thuộc… không nằm trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này. Bài viết cũng chỉ giới hạn ở việc phân tích các quy định về BBCGQSDSC trong hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là CPTPP và EVAFTA cũng như các quy định trong pháp luật quốc tế được hai hiệp định này dẫn chiếu tới và quy định của pháp luật Việt Nam. Từ khóa : Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, CPTPP, EVAFTA, Hiệp định Trips, Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Sức khỏe cộng đồng, Quyết định của Đại hội đồng WTO ngày 30/8/2003.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một trong những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ được thỏa thuận trong hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, các cam kết về vấn đề này có phần khắt khe và cao hơn so với tiêu chuẩn Việt Nam, điều này đã tạo ra không ít thách thức cho Việt Nam trong việc tuân thủ, thực thi có hiệu quả các cam kết về tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo EVFTA. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung phân tích một số quy định nổi bậc của EVFTA về tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nêu và làm rõ các vấn đề thách thức mà Việt Nam phải đối diện khi thực thi các cam kết này, từ đó đưa ra một số giải pháp để góp phần khắc phục. Từ khóa: Quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ, cam kết, thách thức, giải pháp, EVFTA.
Nội dung bài viết là sự phân tích, rà soát, đánh giá mức độ tương thích của các quy định về quyền tác giả giữa Hiệp định EVFTA và pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tác giả. Cùng với việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị đối quy định pháp luật Việt Nam về quyền tác giả nhằm đảm bảo tuân thủ quy định Hiệp định EVFTA. Từ khóa : Quyền tác giả, Hiệp định EVFTA, sở hữu trí tuệ.
Hiệp định EVFTA được ký kết vào năm 2019, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi các cam kết của EVFTA và các cam kết quốc tế về sự cân bằng giữa quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích của công chúng đã được triển khai qua khung pháp luật quốc tế từ Công Ước Be e về quyền tác giả, Hiệp định TRIPS, BTA với Hoa Kỳ đến Hiệp định EVFTA [1] . Các cam kết này được nội luật hóa trong luật SHTT qua những ngoại lệ của quyền tác giả bằng những cách khác nhau. Bài viết phân tích việc thực thi những cam kết của Việt Nam từ đó đưa ra những đề xuất cần thiết cho dự thảo sửa đổi bổ sung luật SHTT [2] . Từ khóa: Cân bằng lợi ích, fair use, ngoại lệ quyền tác giả, sao chép, sao chụp. [1] Xem: http://evfta.moit.gov.vn/data/7d80034a-9a2a-4c93-8046-9df701661850/userfiles/files/EVFTA_en19-final.pdf . [2] Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 (Luật SHTT) đã có những sửa đổi tích cực liên quan đến việc cân bằng lợi ích của các chủ thể thông qua quy định chi tiết những ngoại lệ quyền tác giả (Điều 25 Luật SHTT).
Trong số các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định EVFTA đặt ra trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan nhằm củng cố cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm. Bài viết phân tích cơ sở lý luận hình thành trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian xuất phát từ hành vi xâm phạm gián tiếp, quy định của Hiệp định EVFTA về vấn đề này và những thách thức đặt ra cho pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Từ đó, xác định một số nội dung cần hoàn thiện trong tương lai để đáp ứng cam kết theo Hiệp định EVFTA và yêu cầu thực tiễn hiện nay. Từ khoá: nhà cung cấp dịch vụ trung gian, hành vi xâm phạm quyền tác giả, EVFTA, sở hữu trí tuệ
Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của chính doanh nghiệp đó. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề này càng cần được quan tâm. Bởi lẽ, khi mở rộng thị trường, hệ quả của hành vi xâm phạm nhãn hiệu sẽ nặng nề hơn và mức độ ảnh hưởng đến doanh nghiệp cũng nghiêm trọng hơn. Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và xâm phạm nhãn hiệu nói riêng làm tổn hại cho doanh nghiệp sản xuất chân chính, gây nhầm lẫn, suy giảm lòng tin của khách hàng vào các sản phẩm đã đăng ký bảo hộ, đồng thời gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái và kém chất lượng. Sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế góp phần gia tăng số lượng và sự đa dạng của nhãn hiệu cần bảo hộ. Các quốc gia cần mở rộng đối tượng bảo hộ hướng đến các nhãn hiệu “mới” - nhãn hiệu phi truyền thống. Để hoạt động bảo hộ nhãn hiệu được hiệu quả không thể thiếu sự hợp tác của các quốc gia và các điều ước quốc tế. Trong thời gian qua, Việt Nam đã liên tục thúc đẩy và trở thành thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, trong đó có thể kể đến các hiệp định như CPTPP, EVFTA và RCEP. Các FTA này đều giành một phần để quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng, trong đó có nhãn hiệu phi truyền thống. Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu (i) cơ chế bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ và (ii) trong quy định của CPTPP, EVFTA và RCEP. Từ đó, bài viết (iii)đánh giá sự tương thích của pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay và (iv) những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam sau khi trở thành thành viên của các FTA này. Từ khóa: bảo hộ nhãn hiệu, FTA thế hệ mới, nhãn hiệu phi truyền thống, luật sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi
Trong môi trường kinh tế số, chiếm dụng tên miền (cybersquatting) để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu đang được bảo hộ luôn là vấn đề được quan tâm bởi các quốc gia. Hàng loạt các công cụ pháp lý quốc tế được đề xuất áp dụng trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do. Thông thường đó là xây dựng một hệ thống liên kết thông tin nhằm quản lý tên miền cấp cao mã quốc gia và các cơ chế giải quyết tranh chấp tiên miền – nhãn hiệu. Các yêu cầu này cũng được ghi nhận trong khuôn khổ CPTPP. Tuy nhiên, khung pháp lý trong nước hiện hành đặt ra nhiều thách thức trong quá trình thực hiện các cam kết này của Việt Nam. Từ khóa: nhãn hiệu; tên miền cấp ao mã quốc gia; chiếm dụng tên miền; cybersquatting; cạnh tranh không lành mạnh; giải quyết tranh chấp tên miền
Yếu tố cạnh tranh là một phần không thể thiếu trong nền kinh tế, quyết định, hỗ trợ và là nền tảng vận hành của mọi thị trường. Để tạo dựng môi trường thương mại minh bạch và bình đẳng, các Hiệp định về tự do thương mại (FTA – Free Trade Area) chứa đựng nhiều quy định về điều chỉnh chính sách thương mại của các quốc gia thành viên, mà trong đó, chính sách pháp luật về sở hữu trí tuệ chiếm nhiều sự quan tâm hơn cả. Mục tiêu của Hiệp định FTA thế hệ mới chính là phát triển bền vững. Vì lẽ đó, Việt Nam cần phải rà soát, sửa đổi và ban hành các văn bản pháp luật để cho thấy việc thực thi nghiêm túc các cam kết quốc tế, tránh xung những xung đột không đáng có và đạt được lợi ích cao nhất cho quốc gia, doanh nghiệp. Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) đã khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam – EU ngày càng tốt đẹp và nhằm để khuyến khích sáng tạo, bảo hộ và khai thác hiệu quả các thành quả trí tuệ của Việt Nam, đồng thời khuyến khích thương mại hoá và các hoạt động chuyển giao quyền. Do đó, các quy định về sở hữu trí tuệ cần lồng ghép việc thực hiện có hiệu quả các cam kết về sở hữu trí tuệ trong EVFTA cụ thể liên quan đến chỉ dẫn địa lý. Từ khoá: chỉ dẫn địa lý, hiệp định về tự do thương mại VN-EU, chính sách pháp luật, sở hữu trí tuệ.
EVFTA là một thỏa thuận thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước thành viên EU. Ngày 08/6/2018, Quốc Hội Việt Nam đã phê chuẩn hiệp định EVFTA và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/8/2020. CPTPP là một hiệp định thương mại tự do, thế hệ mới. Năm 2009, Việt Nam tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc biệt. Sau 3 phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này. Tháng 11 năm 2017, tại Đà Nẵng, thành viên TPP đã thống nhất đổi tên hiệp định TPP thành hiệp định CPTPP. Việc tham gia hai hiệp định này góp phần thiết lập các quan hệ đối tác bình đẳng, là một bước tiến lớn trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên thì việc gia nhập các hiệp định này cũng gặp không ít khó khắn, thách thức, khả năng thay đổi để thích hợp với các Hiệp định cũng còn khá hạn chế, đặc biệt là việc thực thi các cam kết về bảo vệ Bảo hộ quyền đối vưới giống cây trồng. Bài viết sẽ phân tích những quy định, cam kết về Bảo hộ quyền đối với giống cây trồng trong hai hiệp định EVFTA và CPTPP, chỉ ra một số thách thức đối với Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả khi thực thi các cam kết trong hai hiệp định này. Từ khóa : Hiệp định EVFTA, Hiệp định CPTPP, Việt Nam, Bảo hộ quyền đối với giống cây trồng, Luật Sở hữu trí tuệ, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, FTA
Bài viết này chủ yếu đề cập đến trách nhiệm giải trình của Chính phủ Việt Nam trong việc thực thi các cam kết về sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là SHTT) trong các Hiệp định thương mại tự do (sau đây gọi tắt là FTA) thế hệ mới. Bên cạnh đó là vai trò của thanh tra với chức năng là một khâu thiết yếu trong chu trình quản lý hành chính nhà nước được coi là công cụ góp phần kiểm soát việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực tế. Theo đó, bài viết đề cập đến sự cần thiết đặt ra trách nhiệm giải trình của Việt Nam về thực thi các cam kết về SHTT, đánh giá thực trạng của trách nhiệm giải trình cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm giải trình của Việt Nam trong việc thực thi các cam kết về SHTT trong các FTA trong đó tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm giải trình được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu. Từ khóa : thanh tra, trách nhiệm giải trình; sở hữu trí tuệ; FTA thế hệ mới.
Session 1: Child Labour & Forced Labour
Thailand is under consideration whether to join the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) along with 4 ASEAN member states namely Brunei, Malaysia, Singapore, and Vietnam. Moreover, the negotiation of an FTA with the European Union, despite its halt in 2013, is expected to resume. This paper aims to study the challenge regarding the implementation of labour provisions which form part of new generation FTAs to which Thailand may become party. It will focus on the labour provisions in the CPTPP and the EU FTA model and examine the eventual impact on Thai labour law as well as to suggest institutional and legal reforms in case of Thailand’s decision to join the CPTPP and/or to conclude an FTA with the EU. Keywords : CPTPP, EU FTA, Labour provisions, Thailand
Vietnam has been more proactive in promoting and protecting labour rights with the signing of Free Trade Agreements (FTAs) in the last few years. The current policy of Vietnam is "proactive and active in comprehensive and in-depth inte ational integration", and inte ational labour integration is “undertaken in sync with inte ational economicintegration” [1] . Vietnam's integration policy has been built unanimously based on the guiding viewpoints laid down in the resolutions of the Communist Party of Vietnam and concretized in the strategies promulgated by the Vietnamese Gove ment. It can be clearly shown that the labour provisions in the Vietnam's FTAs are in line with the integration policy of Vietnam. In this article, the author will focus on clarifying the content of Vietnam's integration policy in general and inte ational integration on labour in particular. Similarly, the article will assess the suitability of provisions and commitments on labour issues in FTAs with Vietnam's integration policy and implementation status also. Finally, the article will make recommendations to effectively utilize and enhance the implementation of these provisions and commitments on labour issues in FTAs in order to successfully implement the integration policy and sustainable development strategy of Vietnam. Key words: FTA, labour issues, integration policy
To mitigate the detrimental impacts of globalization on worker rights, the number of Free Trade Agreements (FTAs), including labor regulations, has quickly increased, resulting in a trend toward incorporating labor provisions into new-generation FTAs. Along with the European Union (EU), the United States (US) is considered as one of the most influential, having pioneered establishing innovative models for incorporating labor-related clauses in FTAs. The article analyzes and compares the US approaches to integrating labor standards provisions into FTAs, focusing on the goals, substantive rules, and inte ational labor standards and labor law implementation. The article next examines the impact of these trends on the goal of labor rights protection. Keywords: labor; non-trade rules; implementation; new- generation free trade agreement; US
One of Vietnam's key labour commitments when becoming one of members of the new-generation free trade agreements such as the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership and EU-Vietnam Free Trade Agreement is to eliminate all forms of forced labour as stipulated in ILO Conventions No. 29 and 105. The implementation of this commitment is an important requirement not only to protect the basic rights of employees, but also to help Vietnamese enterprises stand out in the global stage, and concurrently to contribute to plant a seed for the sustainable development and integration of Vietnam. The paper will analyze the criteria for identifying forced labour according to ILO conventions and suggestions, assess Vietnamese regulations on forced labour; analyze the causes and the current problems of forced labour in reality; on this basis, some recommendations will also provided to ensure the implementation of the commitment to eliminate laborers in Vietnam. Key words: Forced labour, Convention 29, Convention 105, new-generation free trade agreement
In the current globalization context, various countries around the world, including Vietnam, are constantly accelerating the process of inte ational economic integration through activities to expand comprehensive cooperation at several different levels, especially negotiating and signing new-generation free trade agreements. In addition to traditional trade issues, new-generation free trade agreements also address non-trade aspects such as labour, specifically inte ational labour standards. This article will study and shed light on legal aspects related to the elimination of forced labour which is one of the four inte ational labour standards in two strategic new-generation free trade agreements to which Vietnam is a member in particular, including the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EU-Vietnam Free Trade Agreement – EVFTA). Moreover, the article analyses, evaluates and gives some comments on the similarities and differences of Vietnam’s labour law and the two aforementioned free trade agreements on the elimination of forced labour, thereby proposing some recommendations to effectively implement the obligation set forth under the two mentioned agreements. Keywords: forced labour, EVFTA, CPTPP, Vietnam labour law
For as long as it may be, child labour exploitation has become a subject of multi-level attention as it deprives children of their basic rights to physical and mental development and protection to the fullest, and adversarially lead to the economic’s labor force breakdown. Confronting these risks, the Inte ational Labor Organization has maneuvered its two fundamental legal instruments, namely the Convention No. 138 of 1973 on Minimum labour age and Convention No. 182 of 1999 conce ing the Prohibition and Immediate Action for the Elimination of the Worst Forms of Child Labour. What is more, in the context of today’s globalisation, inte ational entities have witnessed more and more new-generation free trade agreements consistently affirming their mission to eradicate child labour. The article, applying analytical and comparative methods to the provisions of the ILO‘s conventions, the FTAs and Vietnamese laws on elimination of child labour, shall try to examine the ability of Vietnam to fulfill these commitments and finally bring about a few recommendations to improve its fulfillment. Keywords: child labour, ILO, EVFTA, CPTPP, labor laws.
Vietnam is one of the countries has a relatively comprehensive legal framework for equal protection in labor. That both shows the political determination of the State of Vietnam and reflects Vietnam's efforts as a member state of the Inte ational Labor Organization (ILO) in realization of inte ational conventions of ILO in national law. To date, Vietnam has ratified a number of strategic new-generation agreements such as the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EU) – EVFTA. The new FTAs will of many market development opportunities to Vietnam but at the same time pose many new challenges for Vietnam in perfecting legal policies, especially in the field of labor law. To effectively implement the contents committed in the two Agreements, Vietnam needs to continue to develop and perfect a system of policies and laws, according to the committed roadmap. This has a significant impact on the Vietnamese labor law system, because one of the important contents that these two Agreements aim to cover includes labor issues with a focus on issues such as: i) Freedom of association and substantive recognition of the right to collective bargaining; ii) End all forms of forced or compulsory labor; iii) Effectively eliminate child labor; iv) Elimination of discrimination in employment and occupation. In particular, the issue of elimination of discrimination in employment and occupation is one of the four core standards of the ILO, expressing a consistent view that gender equality and anti-discrimination are a requirement in the socio-economic development of the country. Within the scope of this article, the author will present legal issues and challenges in enforcing labor standards that "eliminate discrimination in employment and occupation" under new generation FTAs. in Viet Nam. The article is structured in four parts: (1) Some legal issues on labor standards “elimination of discrimination in employment and occupation”; (2) Labor standards “eliminating discrimination in employment and occupation” according to a number of new generation FTAs ratified by Vietnam (namely, the CPTPP and EVFTA Agreements); (3) Assess the compatibility of Vietnam's labor law with the labor standard of "eliminating discrimination in employment and occupation" according to a number of new generation FTAs ratified by Vietnam; (4) Some proposals to improve laws and improve the efficiency of labor standards enforcement "eliminating discrimination in employment and occupation" under some new generation FTAs in Vietnam. Keywords: labor standards, discrimination, anti-discrimination, employment and occupation .
Discrimination has long been one of the most hotly contested issues across political and legal fora. The practice of discrimination must be mitigated and eliminated in order to achieve universal justice and equality, which every gove ment in mode world should strive for. At work, being treated with esteem and fai ess is an incentive for employees to exert their values, intellectually and physically, in their engaging in various economic activities. As for its role as the world’s largest representative of the workers, ILO has proved its radical view conce ing these matters, in regulating the equal remuneration for work of equal value and the definition of discrimination in the field of labor. Moreover, the issue has also been reiterated in the most recent free trade agreements that Vietnam has become a part of. As such, the article provides an analysis and comparison between the aforementioned commitments and the domestic law of Vietnam, and with it, the recommendations for inte alizing the commitments. Keywords: discrimination, labour, ILO, FTA, labor law.
The WTO multilateral trading system encountered deadlocks at the Doha Round. In that context, Vietnam continues to pursue its integration policy by actively negotiating to participate in free trade areas with its important trading partners. Vietnam has signed 15 FTAs, including some major new generation FTAs such as EVFTA, CPTPP, EAEU-VNFTA, UKVNFTA with important counterparts in Europe and Asia-Pacific, which is viewed as the strategy to help Vietnam participate more deeply in the global supply chain. It should be noted that strategic trade agreements such as EVFTA and CPTPP have a wide range of commitments and the highest level of commitment of Vietnam ever. Specifically, in addition to regulations on traditional trade areas, these agreements also extend to "non-traditional" areas such as labour and the environment, posing many challenges to Vietnam in the effective implementation of its inte ational commitments. This article aims to address those challenges from macro-gove ance perspective as well as analyze the methods, strategies dealing with them. Keyword: EVFTA, CPTPP, post-WTO accession period, sustainable development
Session 2: Environment & Sustainable Dev
In addition to conce s related to promoting cooperation and trade development, new generation FTAs also devote a part of the content to regulations on non-trade issues, including sustainable development. Sustainable development is a harmonious combination between the needs of economic development and solving social problems, protecting the environment, respecting human rights... so as not to harm future generations. Conservation of biodiversity is one of the important contents to ensure sustainable development. Within the scope of the article, the authors will analyze the role of biodiversity conservation for sustainable development, thereby studying regulations in CPTPP, EVFTA and analyze the methods Member States used to enforce these regulations to conserve biodiversity for the sake of sustainable development. At the same time, the authors also evaluate the compatibility of regulations on biodiversity conservation in Vietnamese law and the content of EVFTA and CPTPP in order to propose some recommendations for improvement. Keywords: New generation free trade agreements, EVFTA, CPTPP, sustainable development, biodiversity conservation, environment
In comparable with other coastal countries, Vietnam is reaching the acceptance for conserving marine biodiversity. Unsustainable fishing practices for fisheries is accounted for the mentioned difficulties. The increasing of overfishing leads to the decline of fish species and forcefully affect the physiological characteristics of fish species such as the loss of total weight that lead to certain changes in the reproductive cycles and the ability to recover the fish population, food chains and marine ecosystems. Environmental issues, including biodiversity, has been regulated in the new generation FTAs to which Vietnam is a member. Typical examples can be recorded such as the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership and the Vietnam - European Union Free Trade Agreement. In addition to the general regulations on biodiversity, the issue of marine biodiversity conservation is directly regulated by regulations on marine biological resources management with provisions related to conservation and sustainable exploitation of marine biological resources. The article will analyze the implementation of Vietnam's commitments in new generation FTAs on the conservation of marine biodiversity for fish resources. Its aim is to point out the positive results as well as limitations in the implementation of commitments. From that basis, it proposes some solutions to enhance the effectiveness of Vietnam's implementation in accordance with inte ational commitments. Key words : Fish resources conservation; Fishing vessel monitoring; Illegal, unreported, unregulated fishing.
The article analyzes the biodiversity content mentioned in the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the European – Viet Nam Free Trade Agreement (EVFTA); environmental regulations related to biodiversity of Vietnam to institutionalize these two Agreements, point out some challenges of Vietnam in implementing commitments, thereby offering some solutions for Vietnam improve the effectiveness of these commitments. In addition to the problem statement and conclusion, the content of the article includes: - Regulations of EVFTA, CPTPP on biodiversity - Vietnam's challenge in ensuring the implementation of EVFTA and CPTPP commitments on biodiversity - Some recommendations Keywords: Biodiversity, environmental commitment on biodiversity, Vietnam, CPTPP, EVFTA.
The article analyzes the contents related to climate change as a principle and common environmental commitment mentioned in the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the European – Viet Nam Free Trade Agreement (EVFTA); Vietnam's environmental legislation aims to institutionalize these two Agreements and make some recommendations. In addition to the problem statement and conclusion, the content of the article includes: - Regulations of EVFTA, CPTPP on climate change - Vietnam's policies and laws on climate change - The current situation of applying the law on climate change and some challenges of Vietnam in ensuring the implementation of the commitments of the EVFTA and CPTPP on climate change - Some recommendations Keywords: Climate change, Law on environmental protection, CPTPP, EVFTA.
EVFTA is a comprehensive, high-quality agreement that balances benefits for both Vietnam and the EU, and is in line with World Trade Organization (WTO) regulations. Joining the EVFTA is expected to bring many economic benefits to Vietnam, but this also leaves many difficulties and challenges, especially the implementation of climate change commitments in this agreement. Stemming from that fact, the article focuses on analyzing the commitments on climate change in the EVFTA, pointing out some of the challenges that Vietnam will face when complying with the commitments on climate change in this agreement, thereby making some complete recommendations. Keyword: EVFTA, climate change, policies, laws, environment, Vietnam.
The common feature of new generation free trade agreements is that they have a wide scope beyond ordinary trade issues. CPTPP and EVFTA are two of largest new generation free trade agreements that Vietnam has negotiated. Towards the goal of sustainable development, in addition to trade polices, environmental policies are also promulgated in these agreements. As a member of two treates, Vietnam has made many efforts in implementing its commitments, including the commitments on ozone layer protection. However, In addition to certain results that have been achieved, the implementation of Vietnam still has challenges. After analyzing the requirements in implementing the commitment on protecting the ozone layer in the CPTPP and EVFTA, the article will evaluate Vietnam's implementation (in both legal and practical aspects), and on that basis, propose some solutions to improve the efficiency of Vietnam's implementation of inte ational commitments in this field. Keywords: CPTPP, protection of ozone layer, implementation of CPTPP.
The article analyzes: (i) the regulations on greenhouse gas emission trading under three traditional institutions of inte ational environmental law—the 1992 United Nations Framework Convention on Climate Change, the 1997 Kyoto Protocol and the 2015 Paris Agreement; (ii) the provisions of the new-generation FTAs to which Vietnam is a party: the CPTPP, EVFTA, and VN-EAEU FTA. After reviewing, evaluating and comparing the legal system of Vietnam with those of relevant countries, the article then suggests some lessons for Vietnam. Key words: CPTPP, EVFTA, UNFCCC, the Kyoto Protocol, The Paris Agreement, greenhouse gas emission trading, Carbon Credit.
Session 3: IP & Human Rights
While examining provisions related to intellectual property rights protection in new-generation trade agreements, we can note 2 trends. Firstly, the WTO+ provisions are adopted, enhancing the protection of trade-related aspects of intellectual property rights, while threatening to affect some human rights. Secondly, exceptions related to protection of human rights in these new-generation trade agreements are rather modest. This may be a big challenge for the implementation of the TRIPs agreement’s objectives: balancing parties’ rights and obligations, contributing to the mutual advantage of producers and users of technological knowledge and in a manner conducive to social and economic welfare. Keywords: human rights, intellectual property rights protection, trends, new-generation regional trade agreements
Vietnam's participation in the new generation trade agreements shows the Gove ment's constant efforts in promoting the country's comprehensive development. These new generation trade agreements not only open many new opportunities but also contain many challenges for Vietnam. Although the implementation of commitments on the protection of intellectual property rights in trade agreements is the parties’ obligation, how to harmonize and ensure the sustainable development of Vietnam when participating in trade agreements is a challenge for lawmakers and think tanks. This article analyzes sustainable development challenges that Vietnam is facing in the process of implementing new generation trade agreements on intellectual property rights protection. Keywords: Sustainable development, intellectual property, CPTPP, EVFTA, challenges, enforcement.
Compulsory licensing of patent is the permission to use a patent from a gove ment without depending consent of the patent owner. Being one of the restrictions of rights applied to patent owner, patent compulsory licensing is provided in inte ational law as well as in national legislation, inclusing Vietnamese law. Patent compulsory licensing is acknowledged in many new-generation free trade agreements, which brings many opportunities and challenges for developing countries, especially in matter of public health. This paper focuses on analysing these matters: (i) Provisions of CPTPP and EVAFTA on patent compulsory licensing in order to protect public health; (ii) Positive and negative impacts of patent compulsory licensing; (iii) Opportunities and challenges for Vietnam and other developing countries in implementing patent compulsory licensing for purpose of protecting public health; (iv) Provisions of Vietnamese law on patent compulsory licensing in order to protect public health. Compulsory licensing of patent for other reasons, such as patent compulsory licensing for reason of restricting exclusive abuse of patent owner or for reason of using dependent patent… are out of researching scope of this paper. This paper is also limited on analysing provisions of patent compulsory licensing in two new-generation free trade agreements that are CPTPP and EVAFTA as well as provisions in inte ational law which are referred to by those two FTAs and Vietnamese law. Keywords: Compulsory licensing of patent; patent compulsory licensing; protecting public health; CPTPP; EVFTA; TRIPs Agreement; Doha Declaration on TRIPs and Public Health; Decision of the WTO General Council on 30/8/2003.
Protection of industrial property rights is one of the important contents related to the issue of intellectual property agreed in the EVFTA agreement. However, the commitments in this regard are somewhat stricter and higher than Vietnamese standards, which has created many challenges for Vietnam in complying with and effectively implementing its commitments on industrial property rights protection standards under evfta. From there, the article focuses on analyzing some of evfta's outstanding regulations on standards for protection of industrial property rights, stating and clarifying the challenges that Vietnam faces when implementing these commitments, thereby offering a number of solutions to contribute to overcoming them. Keyword : Industrial property rights, protection, commitments, challenges, solutions, EVFTA.
The article analyzes, reviews, and evaluates the compatibility of copyright regulations between the EVFTA and the current Vietnamese law. Along with consulting the experiences in the laws of some countries, the article will make some recommendations for Vietnam's legal regulations on copyright to ensure compliance with the EVFTA. Keyworks : Copyright, EVFTA, Intellectual Property.
The EVFTA Agreement was signed in 2019, Vietnam is obliged to implement the commitments of the EVFTA and inte ational commitments on the balance between the rights of intellectual property rights holders and the interests of the public. They have been implemented through the inte ational legal framework from the Be e Convention on Copyright, the TRIPS Agreement, the BTA with the United States to the EVFTA Agreement. These commitments are codified in IP law through copyright exceptions in different ways. The article analyzes the implementation of Vietnam's commitments, thereby making necessary recommendations for the draft amendments and supplements to the IP law. Keywords: Balance of interests, fair use, exception of copyright, copying, reproducing.
Among the provisions on enforcement of intellectual property right, the EVFTA sets forth the responsibility of intermediary service providers for infringements of copyright and related rights in order to strengthen the prevention mechanism, prevent and handle infringements. The article analyzes the theoretical basis for forming the responsibility of intermediary service providers stemming from indirect infringement, the provisions of the EVFTA on this issue and the challenges posed to the domestic law. From there, identify a number of contents that need to be completed in the future to meet the commitments under the EVFTA and current practical requirements. Keywords: intermediary service provider, copyright infringement, EVFTA, intellectual property
The topic of trademark protection is of utmost importance for companies' production and their business activities. In the context of inte ational economic integration, the topic mentioned needs a more significant conce from economists, lawyers, lawmakers, and gove ments. With the expansion of the market, the consequences of trademark infringement become more severe and the impact on companies will be at the new extreme. Infringement of industrial property rights in general and trademark infringement in particular harm genuine production enterprises, mystify and lessen customers’ confidence in registered products, and at the same time, increase the risk that the consumers having encountered counterfeit, forged, and inferior goods. The development of inte ational trade activities contributes to an increase in the number and variety of trademarks to be protected. Countries need to expand protection subject to "new" trademarks or non-traditional trademarks. The practice of trademark protection activities could not be terminated without the collaboration of countries and inte ational treaties. Vietnam has continuously promoted many new-generation free trade agreements (FTAs), namely CPTPP, EVFTA, and RCEP. The FTAs mentioned are all participating in regulating intellectual property in general and trademark protection in particular, including non-traditional trademarks. Within the article, the authors focus on (i) the non-traditional trademark protection mechanism in inte ational intellectual property law and (ii) the provisions of the CPTPP, EVFTA, and RCEP. From there, the article assesses (iii) the compatibility of Vietnam's current IP law and (iv) the opportunities and challenges for Vietnam after accession to the FTAs. Keywords : trademark protection, new-generation FTA, non-traditional trademark, intellectual property law, sound mark, scent mark.
In the digital economy environment, domain name appropriation (cybersquatting) to perform acts of unfair competition, especially can cause confusion with a protected trademark is always the key matter with the nations. The mumber of inte ational legal instruments are proposed to be applied within the framework of free trade agreements. In particular, it set up an information linkage system to manage country code top-level domains and pre-domain-trademark dispute resolution mechanisms. These requirements are also recognized in the CPTPP. However, the current domestic legal framework poses many challenges in Vietnam's implementation of these commitments. Keywords: trademark; country code pond level domain name; domain name misappropriation; cybersquatting; Unfair competition; domain name dispute resolution
The competitive factor is an integral part of the economy, deciding, supporting and underpinning the operation of all markets. In order to create a transparent and fair trade environment, the Free Trade Area Agreements (FTAs) contain many provisions on regulating trade policies of member countries, in which, the legal policy on intellectual property occupies the most attention. The goal of the new generation FTA is sustainable development. Therefore, Vietnam needs to review, amend and promulgate legal documents to show the serious implementation of inte ational commitments, avoid unnecessary conflicts and achieve the highest interests for countries and businesses. The Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EVFTA) has ended negotiations in the context of the increasingly better bilateral relationship between Vietnam and the EU and aimed to encourage innovation, effectively protect and exploit Vietnam's intellectual achievements, and at the same time encourage commercialization and rights for transfer activities. Hence, intellectual property regulations need to be integrated with the effective implementation of commitments on intellectual property in the EVFTA specifically related to geographical indications. Keywords: geographical indication, EVFTA, legal policy, intellectual property.
EVFTA is a free trade agreement between Vietnam and EU member states. On June 8, 2018, the National Assembly of Vietnam ratified the EVFTA. The agreement took effect on August 1, 2020. CPTPP is a new generation free trade agreement. In 2009, Vietnam joined the TPP as a special observer. After three rounds of negotiations, Vietnam officially joined this agreement. In November 2017, in Da Nang, TPP members agreed to rename the TPP into CPTPP. The participation in these two agreements contributes to the establishment of equal partnerships, which is a major step forward in the progress of proactive inte ational economic integration. However, the accession to these agreements faces many difficulties and challenges, the flexibility to conform to the Agreements is also quite limited, especially the implementation of commitments on protection of rights to plant varieties. The article is going to analyze the provisions and commitments on protection of rights to plant varieties in the EVFTA and CPTPP, pointing out some challenges for Vietnam, thereby offering a number of solutions to help Vietnam improve its efficiency when implementing the commitments in these two agreements. Keywords: EVFTA, CPTPP, Vietnam, Protection of Rights to Plant Varieties, Intellectual Property Law, New Generation Free Trade Agreement, FTA
This article mainly deals with the accountability of the Gove ment of Vietnam in the implementation of commitments on intellectual property (hereinafter referred to as IPR) in the Free Trade Agreements (hereinafter abbreviated as IP). is FTA) new generation. In addition, the inspector's role as an essential stage in the state administrative management cycle is considered a tool to contribute to controlling the implementation of accountability in practice. Accordingly, the article discusses the need to set the accountability of Vietnam for the implementation of IP commitments, assess the current situation of accountability, and propose solutions to improve accountability. Vietnam's progress in implementing IP commitments in FTAs, strengthening inspection, and examining the implementation of accountability is considered one of the effective solutions. Keywords : accountability; intellectual property; new-generation FTAs
Heure: 03/11/2021 – 04/11/2021