Chương trình đang được cập nhật.
Phiên Khai mạc
Phần I: Tổng quan FTA thế hệ mới
-
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI THẾ HỆ MỚI (FTA) ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAMTh.S Phạm Thanh Nga; PGS. TS Doãn Hồng NhungHòa giải viên thương mại - Hà Nội | Hội viên Hội luật quốc tế Việt Nam | Giảng viên Luật | Giảng viên – Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội
-
TỔNG QUAN VỀ CÁC CAM KẾT MÔI TRƯỜNG VÀ LAO ĐỘNG TRONG EVFTA: NHỮNG TÁC ĐỘNG VỀ MẶT CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAMTS. Đào Gia PhúcHòa giải viên thương mại - Hà Nội | Hội viên Hội luật quốc tế Việt Nam | Giảng viên Luật, Giảng viên – Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Phó Giám đốc Trung tâm pháp luật Hoa Kỳ, Giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế- Luật, ĐHQG- HCM
-
CÁC QUY ĐỊNH PHI THƯƠNG MẠI TRONG CÁC FTA THẾ HỆ MỚI CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ KHẢ NĂNG THÚC ĐẨY GIÁ TRỊ CHÂU ÂU Ở PHẠM VI TOÀN CẦUTS. Vũ Kim NgânGiảng viên, Khoa Luật, Đại học Ngoại Thương
-
GIẢI THÍCH THỐNG NHẤT ĐIỀU ƯỚC ĐẦU TƯ QUỐC TẾ– ĐÃ ĐẾN LÚC XEM XÉT LẠI MỤC TIÊU “PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG”?NCS. ThS Lê Tấn PhátNghiên cứu sinh Tiến sỹ khoa Luật Đại học Montreal, Giảng viên khoa Luật Quốc tế Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, ThS Nguyễn Hoàng Thái Hy *, Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
-
SỰ THAM GIA CỦA CÔNG CHÚNG VÀO THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH PHI THƯƠNG MẠI TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAMTS. Nguyễn Ngọc HàGiảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại Thương; email: hann@ftu.edu.vn
-
BẢO VỆ CÁC GIÁ TRỊ PHI THƯƠNG MẠI TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI TỪ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚINCS. ThS. Nguyễn Thị Anh Thơ; ThS. Trần Phương AnhPhụ trách Bộ môn Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội | Giảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế
Phần II: Lao động trong FTA
-
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (CPTPP) VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) ĐẾN QUYỀN TỰ DO LIÊN KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAMTS. Nguyễn Thị BíchGiảng viên Khoa Luật Dân sự -Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
-
BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TỪ YÊU CẦU CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNGTh.S Trần Tuấn Sơn; Th.S Đoàn Thanh Vũ; Nguyễn Hoàng BaKhoa Luật, ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng | Khoa Luật, Đại học Lao động Xã hội (CS2) | Đại học Trà Vinh
-
XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚITS. Ngô Hữu Phước; Nguyễn Thị Kim CúcTS. , Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM | Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM
-
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KHOẢN PHI THƯƠNG MẠI (QUYỀN CON NGƯỜI) TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DOSebastien LafrancePublic Prosecution Service of Canada
-
QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI : VAI TRÒ NÀO TRONG VIỆC GIẢM HIỆN TƯỢNG «PHÂN MẢNH» LUẬT QUỐC TẾ ?PGS. TS Trần Thị Thùy DươngGiảng viên khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM
Phần III: Bảo vệ Môi trường trong FTA
-
THỰC THI CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HIỆP ĐỊNH CPTPP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAMThs. Trần Linh HuânGiảng viên, Khoa luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. HCM
-
SỰ BẤT CÂN XỨNG GIỮA QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI QUYỀN BAN HÀNH CHÍNH SÁCH VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA QUỐC GIA VÀ GIẢI PHÁP THÔNG QUA CÁC QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚIĐỗ Thị Thu Hà; Nguyễn Phú Kim ThưSinh viên K41, Trường Đại học Luật TP. HCM
-
THỰC THI CAM KẾT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HIỆP ĐỊNH CPTPP VÀ EVFTA – BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC ÁN LỆ CỦA WTOThS. Tào Thị Huệ; ThS. Ngô Trọng QuânGiảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, hueqt31a@gmail.com | Giảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, ngotrongquancbg@gmail.com
-
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNGTS. Phạm Hồng Hạnh; ThS. NCS. Hà Thanh HoàGiảng viên, Khoa Pháp luật quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội
-
QUY ĐỊNH CỦA EVFTA VÀ CPTPP VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC –KINH NGHIỆM CHO PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAMPGS. TS Trần Việt Dũng; ThS. Lê Minh Nhựt; ThS. Trần Thị Ngọc HàTrường khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM | Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. HCM
-
SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CPTPP VÀ EVFTA: NHỮNG THÁCH THỨC CHO CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG VIỆT NAMPGS. TS Trần Việt Dũng; ThS. Lê Minh Nhựt; ThS. Trần Thị Ngọc HàPGS. TS, Trưởng Khoa Luật quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh | ThS, giảng viên Khoa Luật quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Phần IV: Các lợi ích phi thương mại khác
-
QUYỀN TIẾP CẬN DƯỢC PHẨM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 – GÓC NHÌN TỪ KHUNG PHÁP LÝ WTO VÀ HIỆP ĐỊNH CPTPPThS. Ngô Nguyễn Thảo Vy; ThS. Bs. Nguyễn Quốc HùngGiảng viên Bộ môn Luật Thương mại Quốc tế, Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh | Bác sĩ chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP. Hồ Chí Minh
-
CƠ SỞ BIỆN MINH CHO NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TRONG TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP ĐỐI PHÓ VỚI COVID- 19 VÀ CÁC RỦI RO PHÁT SINH TỪ CPTPPNgo Nguyen Thao Vy; Nguyen Xuan My HienLecturer, Inte ational law faculty, HCM City University of Law
-
NHÌN LẠI QUYỀN KIỂM SOÁT VÌ LỢI ÍCH CÔNG CỦA QUỐC GIA TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI THẾ HỆ MỚI CỦA VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG VIỆN DẪN KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO VỆ SỨC KHOẺ CÔNG CỘNGNguyễn Thị Lan Hương; Trần Thị Thuận Giang; Ngô Nguyễn Thảo VyNghiên cứu sinh ĐH Lausanne, Thuỵ Sĩ; giảng viên trường ĐH Luật Tp. HCM | Thạc Sĩ, giảng viên trường ĐH Luật Tp. HCM | Thạc Sĩ, giảng viên trường ĐH Luật Tp. HCM, Bài viết này nhận được sự hỗ trợ từ chương trình HR2020 của Quỹ Marie Skłodowska-Curie theo thỏa thuận No 734712
-
BẢO VỆ LỢI ÍCH PHI THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO THÔNG QUA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO GIỮA VIỆT NAM VÀ EUPGS. TS Trần Thị Thùy Dương; Ths. Nguyễn Xuân Mỹ Hiền
-
BIỂU HIỆN “SPS CỘNG” THÔNG QUA QUY ĐỊNH VỀ BẰNG CHỨNG KHOA HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO ĐỐI VỚI QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM NHẬP KHẨU TRONG CPTPPNCS. ThS. Nguyễn Thị Thu ThảoGiảng viên khoa Luật quốc tế, nghiên cứu sinh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
-
QUY ĐỊNH VỀ TỰ DO DỮ LIỆU TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI – TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAMThS. Lê Trần Quốc CôngGiảng viên khoa luật Quốc tế, trường Đại học Luật TP. HCM
Part 1: Overview of New-Gen FTAs
-
PUBLIC PARTICIPATION IN THE IMPLEMENTATION OF NON-TRADE RULES IN NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENT AND ISSUES TO VIETNAMNguyen Ngoc Ha, Ph.DLecturer, Faculty of Law, Foreign Trade University
-
UNIFORM INTERPRETATION OF INTERNATIONAL INVESTMENT AGREEMENTS – IS IT TIME TO RECONSIDER THE GOAL OF SUSTAINABLE DEVELOPMENT?Nguyen Hoang Thai Hy, LL.MLe Tan Phat, Ph.D Candidate | University of Montreal, Lecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law | Nguyen Hoang Thai Hy, LL.M | Lecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
THE INCLUSION OF NON-TRADE ISSUES IN THE EUROPEAN UNION (EU)’S NEW-GENERATION FTAS: HOW FAR CAN IT HELP PROMOTE LEGAL HARMONIZATION OF EUROPEAN VALUES AT THE GLOBAL LEVEL?Vu Kim Ngan, Ph.DLecturer, Faculty of Law, Foreign Trade University
-
AN OVERVIEW OF COMMITMENTS ON LABOUR AND ENVIRONMENT IN EVFTA: POLICY IMPLICATIONS FOR VIET NAM.Dao Gia Phuc, Ph.DVice- Director of American Law Center, Lecturer, Inte ational Faculty, University of Economics and Law
-
IMPACTS OF NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENT ON IMPROVING VIETNAM LEGAL POLICYAssoc.Prof Doan H ong NhungPh a m Thanh Nga , LL.M | Mediator, Lecturer, School of Law, Vietnam National University Hanoi (VNU) | Lecturer, School of Law, Vietnam National University Hanoi (VNU)
Part 2: Labour in FTAs
-
LABOUR PROVISIONS IN NEW-GENERATION TRADE AGREEMENTS: ANY CONTRIBUTION TO AN EVENTUAL REDUCTION OF THE "FRAGMENTATION" OF INTERNATIONAL LAW?Assoc. Prof.Tran Thi Thuy DuongManaging Deputy Editor-in-chief of the Legal Sciences Jou al, Lecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
AN OVERVIEW OF NON-TRADE PROVISIONS (HUMAN RIGHTS) IN FREE TRADE AGREEMENTSSebastien LafrancePublic Prosecution Service of Canada
-
ELIMINATION OF FORCED LABOUR IN NEW-GENERATION FREE TRADE AGREEMENTSNgo Huu Phuoc, Ph.D; Nguyen Thi Kim CucLecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
THE IMPACT OF THE COMPREHENSIVE AND PROGRESSIVE TRANSPACIFIC PARTNERSHIP AGREEMENT AND THE VIETNAM-EU FREE TRADE AGREEMENT ON WORKERS’ FREEDOM OF ASSOCIATION IN VIETNAMESE ENTERPRISESPhD. Nguyen Thi BichLecturer of civil law faculty - Law University of Hochiminh City
Part 3: Environment in FTAs
-
A COMPARISON BETWEEN REGULATSIONATIONS ON CLIMATE CHANGE MANAGEMENT UNDER THE CPTPP AND EVFTA: CHALLENGES FOR VIETNAM’S ENVIRONMENTAL LAW AND POLICYTran Viet Dung; Le Minh Nhut; Tran Thi Ngoc HaAssociate Professor, PhD, Dean of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law | LL.M., lecturer of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
REGULATIONS OF THE EVFTA AND CPTPP ON BIO DIVERSITY – SOME SUGGESTIONS FOR IMPROVEMENT OF VIETNAMESE ENVIRONMENTAL LAWTran Viet Dung; Le Minh Nhut; Tran Thi Ngoc HaAssociate Professor, PhD, Dean of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law | LL.M., lecturer of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
THE NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS AND THEIR IMPACTS ON VIETNAM'S LEGAL SYSTEM IN FOREST RESOURCES MANAGEMENTPhD. Phạm Hồng Hạnh; PhD candidate Hà Thanh HoàLecturer, Hanoi Law University
-
IMPLEMENTATION OF CPTPP AND EVFTA COMMITMENTS ON ENVIRONMENTAL PROTECTION: LESSONS FROM WTO JURISPRUDENCELLM. Tào Thị Huệ; LLM. Ngô Trọng QuânLecturer, Hanoi Law University, hueqt31a@gmail.com | Lecturer, Hanoi Law University, ngotrongquancbg@gmail.com
-
THE ASYMMETRY BETWEEN FOREIGN INVESTORS’ RIGHTS AND STATES’ RIGHT TO REGULATE ENVIRONMENTAL ISSUES AND THE SOLUTION THROUGH ENVIRONMENTAL PROVISIONS IN NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTSĐỗ Thị Thu Hà; Nguyễn Phú Kim ThưK41 Students, Ho Chi Minh city University of Law
-
IMPLEMENTATION OF ENVIRONMENTAL PROTECTION COMMITMENTS IN CPTPP AGREEMENT AND IMPLICATIONS FOR VIETNAMLLM. Trần Linh HuânLecturer, Ho Chi Minh city University of Law
Part 4: Other Non-Trade Benefits
-
FREE FLOW OF DATA UNDER THE NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS - IMPACT ON VIETNAMESE LAWLLM. LE Tran Quoc CongLecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
EXPRESSION “SPS PLUS” THROUGH REGULATION ABOUT SCIENTIFIC EVIDENCE AND RISK ASSESSMENT FOR SAFETY OF IMPORTED FOOD REGULATION IN CPTPPPhD Candidate Nguyễn Thị Thu ThảoLecturer in Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
PROTECTING VIETNAM’S NON- TRADE ISSUES IN TRADE AND INVESTMENT IN RENEWABLE ENERGY GENERATION.Ass. Prof Tran Thi Thuy Duong; LLM. Nguyen Xuan My HienLecturer of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
REVIEW THE POLICE POWER IN THE NEW GENERATION FREE TRADE AGREEMENTS VIETNAM HAS RATIFIED AND THE POSSIBILITIES WHEN APPLYING MEASURES TO PROTECT PUBLIC HEALTHNguyễn Thị Lan Hương; Trần Thị Thuận Giang; Ngô Nguyễn Thảo VyLausanne University PhD Candidate; Lecturer of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law | LLM., Lecturer of Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law
-
HOST STATE’S EMERGENCY MEASURES TRIGGERED IN COVID-19 AND LEGAL DEFENSES UNDER INTERNATIONAL INVESTMENT LAW- STEPPING ON CPTPP’S THIN ICENgo Nguyen Thao Vy; Nguyen Xuan My HienLecturer, Inte ational law faculty, HCM City University of Law
-
THE RIGHT TO ACCESS TO MEDICINES IN THE CONTEXT OF THE COVID-19 PANDEMIC- THE STATUTORY PERSPECTIVE FROM THE WTO AGREEMENTS AND THE CPTPPNguyen Quoc Hung, LL.MNgo Nguyen Thao Vy, LL.M | Lecturer, Inte ational Law Faculty, Ho Chi Minh City University of Law | Doctor, Hospital for Traumatology and Orthopaedics
-
EUROPEAN UNION-VIETNAM TRADE AND INVESTMENT AGREEMENTS: TOWARDS SUSTAINABLE DEVELOPMENT ON THE PATH OF RENEWABLE ENERGY DEPLOYMENTHa T. Nguyen; Umut Turksen(LL.B., LL.M.). He can be contacted by email theha2911@gmail.com | Prof Dr. Umut Turksen is a professor of law at Coventry University and the deputy director of the Centre for Financial and Corporate Integrity. He can be contacted at umut.turksen@coventry.ac.uk
Phiên Kết thúc
Thông tin diễn giả đang được cập nhật.
Phần I: Tổng quan FTA thế hệ mới
Tóm tắt Trước tình trạng bế tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về vấn đề tự do hóa thương mại đa phương toàn cầu, các quốc gia đã thiết lập các khu vực tự do thương mại qua việc ký kết các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới với những vấn đề rộng hơn những thỏa thuận tự do thương mại truyền thống như vấn đề về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phòng chống tham nhũng, lao động, quyền con người, … Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết nhiều hiệp định tự do thương mại thế hệ mới với nhiều đối tác lớn như Liên minh châu Âu (EVFTA) hay các quốc gia khu vực châu Á Thái Bình Dương (CPTPP); v.v... Những FTA mới này không chỉ tác động đến hoạt động kinh tế, thương mại của Việt Nam, mà chúng còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện thể chế chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trong bài viết này, tác giả sẽ đưa ra những vấn đề tổng quan nhất về các FTA thế hệ mới, từ đó phân tích những tác động của những FTA này tới việc xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật Việt Nam trong thời gian qua và trong tương lai. Từ đó tác giả đưa ra những kết luận và đề xuất thích hợp. Từ khóa: FTA; chính sách; pháp luật; tác động; Việt Nam.
Tóm tắt: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1995 trên nền tảng của các cam kết thương mại đa phương với kỳ vọng là một tổ chức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và xoá bỏ các rào cản thương mại. Sau 25 năm hình thành và phát triển, bên cạnh những thành tựu được ghi nhận, WTO đối mặt với rất nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thế kỷ 21, điển hình là sự bùng nổ của các liên kết kinh tế khu vực và sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ kiểu mới tại các nước phát triển. Hiện nay, đối với các quốc gia trên thế giới vai trò của các Hiệp định Thương mại tự do ở cấp độ Song phương và Khu vực, đặc biệt là các hiệp định thế hệ mới, trở nên ngày càng quan trọng trong bối cảnh thuơng mại thế giới đang thay đổi nhanh chóng với sự chững lại của các đàm phán thương mại ở cấp độ đa phương. Nội dung của các hiệp định này bao trùm không những các đàm phán truyền thống mà còn có cả các cam kết xượt xa khỏi những quy định hiện hành của WTO liên quan đến các yếu tố phi thương mại, khiến các quốc gia ký kết phải có những điểu chỉnh chính sách nội địa cho phù hợp. Bài viết tập trung phân tích tác động của việc thực thi các cam kết về lao động và môi trường của các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia, điển hình là Hiệp định Việt Nam – Liên Minh Châu Âu (EVFTA), đối với chính sách nội địa của Việt Nam, từ đó đề xuất một số định hướng nhằm tối đa hoá lợi ích đạt được khi tham gia vào các hiệp định này. Từ khóa : Hiệp định thương mại tự do, thương mại đa phương, EVFTA, các biện pháp phi thuế quan, lao động, môi trường.
Bên cạnh việc có mức độ cam kết sâu và rộng, sự xuất hiện của các quy định phi thương mại được xem là một đặc trưng căn bản trong các FTA thế hệ mới, nhất là với những hiệp định của Liên minh Châu Âu (EU). Cho dù đối tác là nước phát triển hay đang phát triển, EU vẫn nhất quán trong việc ‘xuất khẩu’ các giá trị phi thương mại, gồm có yếu tố liên quan đến phát triển bền vững, quản trị hiệu quả và quyền con người trong các hiệp định song phương với đối tác. Dù tồn tại nghịch lý, chính các hiệp định thương mại tự do lại có vai trò như là công cụ tạo thuận lợi cho việc truyền bá các giá trị phi thương mại của EU trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt với các nước đang phát triển. Tuy vậy, mức độ và khả năng tác động của những quy định này đối với thực tiễn các vấn đề phi thương mại tại các nước đang phát triển vẫn cần được nghiên cứu thêm. Bài viết này hướng tới việc làm rõ mục tiêu và cơ sở của EU khi đưa các nội dung phi thương mại vào FTA, tìm hiểu ảnh hưởng về mặt pháp lý của các quy định này và xem xét tác động đối với việc bảo tồn và bảo vệ các giá trị phi thương mại tại các nước đối tác của EU. Trên cơ sở phân tích nội dung cụ thể của FTA thế hệ mới của Liên minh Châu Âu, bài viết chỉ ra rằng mặc dù EU có mục tiêu tham vọng trong việc xuất khẩu các giá trị phi thương mại, việc thực thi các quy định này trên thực tế lại phụ thuộc vào ý chí của các bên trong khi vấn đề bảo vệ các giá trị phi thương mại ở nước đối tác còn mang tính chính trị và không phải lúc nào FTA cũng có chế tài dành cho bên vi phạm. Ngoài ra, bài viết cũng chỉ ra những cơ sở để các đối tác của EU, cụ thể là quốc gia thuộc ASEAN, chấp nhận nhóm quy định phi thương mại trong các FTA thế hệ mới song phương với EU. Từ khoá : Liên minh Châu Âu, vấn đề phi thương mại, FTA thế hệ mới, giá trị Châu Âu, hài hoà hoá pháp lý, ASEAN
Các hiệp định thương mại thế hệ mới được biết đến với nỗ lực ghi nhận các mối quan tâm của nhân loại về môi trường và biến đổi khí hậu, nhằm tìm kiếm sự cân bằng với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, các nỗ lực này chỉ có thể đạt được hiệu quả thông qua việc áp dụng các điều khoản cụ thể khi giải quyết tranh chấp như các tiêu chuẩn về đối xử và bảo vệ nhà đầu tư, các ngoại lệ cho quyền điều chỉnh pháp luật của quốc gia tiếp nhận vốn. Trong bối cảnh ngôn ngữ của các điều khoản này còn mơ hồ và tạo ra nhiều cách giải thích, các cơ quan tài phán có xu hướng viện dẫn đến “Đối tượng và mục tiêu” của điều ước quốc tế để đưa ra cách giải thích phù hợp nhất. Mục tiêu “Phát triển bền vững” được kỳ vọng là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích pháp luật nhằm tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, phát triển xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng mục tiêu này để giải thích các điều khoản cụ thể thì không đạt được kỳ vong vì bản thân khái niệm này còn nhiều tranh cãi. Bài viết này đề xuất một mục tiêu khác phù hợp hơn, cùng với “công cụ” là nguyên tắc thiện chí trung thực (principle of good faith) để đạt đến sự cân bằng các lợi ích xung đột và đóng góp vào việc giải thích thống nhất điều ước quốc tế về đầu tư. Từ khóa : phát triển bền vững, nguyên tắc thiện chí trung thực, giải thích điều ước đầu tư quốc tế
Tóm tắt: Nhận thức được vai trò quan trọng của công chúng trong quá trình thực thi các quy định phi thương mại, một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đã hàm chứa các cơ chế về sự tham gia của công chúng. Các cơ chế đó tiếp tục được bổ sung và đảm bảo thực thi bằng những quy định pháp luật nội địa của một số bên tham gia, trong đó có Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu. Do đó, bài viết tập trung làm rõ nội dung của các cơ chế có liên quan cũng như phân tích một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam khi thực thi những cơ chế này. Từ khóa : Công chúng; quy định phi thương mại; thực thi; hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Việt Nam
Tóm tắt: Trong một vài thập kỷ gần đây, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tạo nền tảng pháp lý để phát triển một nền kinh tế năng động, và hội nhập. Một điều thú vị đó là, mặc dù các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bao gồm các quy định và cam kết sâu hơn trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng Việt Nam chưa từng tận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các hiệp định này. Đặt trong bối cảnh tính tương đồng của các quy định và các cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên trong các điều ước thương mại quốc tế này, cũng như thực tiễn các tranh chấp trong WTO liên quan tới các giá trị phi thương mại rất phong phú và đa dạng, bài viết sẽ nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO liên quan tới các vấn đề bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật trong những tranh chấp điển hình. Bài viết lập luận rằng các quy định trong WTO hay các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vẫn sẽ có những khoảng trống giữa pháp luật điều chỉnh các vấn đề bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và thực tiễn tranh chấp. Bởi vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp, mặc dù không có thẩm quyền xây dựng các nguyên tắc pháp luật, nhưng vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp cũng rất quan trọng trong việc tìm ra đường hướng bảo vệ các giá trị này khi giải thích các quy định pháp luật và các nguyên tắc chung của luật cũng như tập quán quốc tế. Từ khoá : Giá trị phi thương mại, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, giải quyết tranh chấp, tổ chức thương mại thế giới.
Phần II: Lao động trong FTA
Tóm tắt: Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thông qua việc tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định tự do thương mại (FTA) thế hệ mới, gần đây nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) – EVFTA. Để các nội dung Việt Nam đã cam kết trong hai Hiệp định trên được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn, Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách theo lộ trình. Điều này có tác động không nhỏ đến hệ thống pháp luật lao động Việt Nam bởi một trong các nội dung quan trọng hai Hiệp định hướng tới đều bao gồm vấn đề về lao động với trọng tâm là: i) Tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể, ii) Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc, iii) Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em, iv) Chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Trong đó, quyền tự do liên kết của người lao động (NLĐ) là nội dung cam kết được quan tâm đặc biệt vì đây điểm mới mà hệ thống pháp luật lao động Việt Nam trước đó chưa được ghi nhận cụ thể. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ trình bày một số điểm tác động của Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA đến quyền tự do liên kết của NLĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết có kết cấu gồm ba phần: i) Quyền tự do liên kết của NLĐ theo Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA; ii) Tác động Hiệp định CPTPP và EVFTA đến các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về quyền tự do liên kết của NLĐ; iii) Trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mở rộng quyền tự do liên kết cho NLĐ theo Hiệp định CPTPP và EVFTA.
Tóm tắt: Quyền của lao động trẻ em là một trong những nội dung cơ bản về quyền của người lao động đã được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế quy định, nội dung này cũng được đề cập trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP nói riêng. Bài viết có những phân tích, đánh giá các nội dung về quyền của lao động trẻ em trong các quy định của pháp luật Việt Nam và trong nội dung Hiệp đinh CPTPP mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó, đối sánh được mức độ tương thích và phù hợp của pháp luật Việt Nam so với những yêu cầu của Hiệp định CPTPP về vấn đề bảo đảm quyền của lao động trẻ em. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của lao động trẻ em, phù hợp với những nội dung cam kết về lao động trong CPTPP. Từ khóa: Quyền lao động trẻ em, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến cam kết xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA [1] ) mà Việt Nam là thành viên mà điển hình là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP [2] ), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA [3] ) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á- Âu (VN-EAEU FTA [4] ). Đặc biệt, bài viết đi sâu phân tích, đánh giá, bình luận những điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật lao động Việt Nam và các FTA mà Việt Nam là thành viên về loại bỏ lao động cưỡng bức, qua đó kiến nghị một số giải pháp thực thi có hiệu quả các cam kết này. [1] Tên tiếng Anh là: free trade agreement. Viết tắt là: FTA [2] Tên tiếng Anh là: Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership. Viết tắt là: CPTPP [3] Tên tiếng Anh là: EU- Vietnam Free Trade Agreement. Viết tắt là: EVFTA [4] Tên tiếng Anh là: Vietnam – Eurasian Economic Union Free Trade Agreement. Viết tắt là: VN-EAEU FTA
Tóm tắt Bài viết trình bày mối liên hệ giữa vấn đề phi thương mại (quyền con người) và các điều khoản thương mại. Trong đó, tập trung đánh giá vai trò và vị trí của các quy định quyền con người trong hiệp định thương mại tự do trong bối cảnh của WTO, công pháp quốc tế, Liên minh Châu Âu, Việt Nam và Canada. Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, điều khoản phi thương mại, quyền con người, WTO, EU, Việt Nam, Canada.
Bài viết này nghiên cứu việc lồng ghép các điều khoản về lao động vào các hiệp định thương mại thế hệ mới, đặc biệt là các hiệp định mà Việt Nam tham gia (EVFTA và CPTPP). Từ đó, tác giả trả lời câu hỏi : liệu việc lồng ghép này có làm giảm bớt hiện tượng « phân mảnh » luật quốc tế, cũng như những mặt trái của hiện tượng này ? Liệu việc lồng ghép có giúp bảo vệ tốt hơn các quyền về lao động ?
Phần III: Bảo vệ Môi trường trong FTA
Tóm tắt Ngày 12/11/2018 Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và trở thành thành viên thứ bảy của hiệp định. Việc gia nhập vào hiệp định trên được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho Việt Nam, tuy nhiên bên cạnh đó thì điều này cũng để lại không ít khó khăn thách thức, đặc biệt là trong vấn đề về tuân thủ thực thi các cam kết môi trường trong Hiệp định này. Xuất phát từ thực tế đó, bài viết tập trung (i) phân tích, làm rõ một số nội dung cam kết môi trường trong Hiệp định CPTPP, (ii) chỉ ra một số thách thức của Việt Nam trong việc tuân thủ thực thi các cam kết môi trường trong Hiệp định này, (iii) từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện. Từ khóa: Hiệp định CPTPP, thực thi cam kết, bảo vệ môi trường, Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài và bảo vệ môi trường vốn là các vấn đề trọng tâm của sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan đến vấn đề môi trường đã và đang ngày càng gia tăng. Thực tiễn tranh chấp cho thấy quyền ban hành chính sách của quốc gia đối với các vấn đề về môi trường, vốn thuộc quyền chủ quyền của quốc gia, có khả năng bị thách thức bởi các cáo buộc vi phạm nghĩa vụ bảo hộ đầu tư và yêu cầu bồi thường từ nhà đầu tư nước ngoài (“ NĐTNN ”). Hơn nữa, các hiệp định đầu tư quốc tế (“ IIA ”) truyền thống thường chỉ quy định nghĩa vụ của quốc gia đối với đầu tư nước ngoài, hiếm khi đưa ra nghĩa vụ tương xứng của NĐTNN về vấn đề bảo vệ môi trường ở quốc gia tiếp nhận đầu tư (“ QGTNĐT ”). Điều này tạo nên sự bất cân xứng quyền lợi giữa QGTNĐT và NĐTNN. Thực tế này đặt ra nhu cầu bức thiết phải có một công cụ nhằm cân bằng quyền và lợi ích của QGTNĐT và NĐTNN. Một trong những công cụ được kỳ vọng sẽ góp phần dung hoà quyền lợi của NĐTNN và QGTNĐT, tạo cơ sở vững chắc hơn cho QGTNĐT theo đuổi mục tiêu môi trường bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, đó chính là các điều khoản về môi trường trong các hiệp định thương mại tự do (“ FTA ”) thế hệ mới. Bài viết này sẽ phân tích vai trò của các quy định về môi trường trong FTA thế hệ mới đối với việc khắc phục sự bất cân xứng giữa quyền của NĐTNN và quyền ban hành chính sách vì môi trường của quốc gia. Từ khoá: điều khoản về môi trường, quyền ban hành chính sách, cân bằng sự bất cân xứng, đầu tư nước ngoài, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) đều bao gồm các cam kết về bảo vệ môi trường trong hoạt động thương mại quốc tế. Thành viên của hai Hiệp định này do đó phải đồng thời tuân thủ nghĩa vụ về tự do hoá thương mại, cũng như bảo vệ môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế (MEA) được quy định. Tuy nhiên, làm thế nào để áp dụng một biện pháp hạn chế thương mại, nhằm bảo vệ môi trường theo các MEA mà không vi phạm các nghĩa vụ về tự do hoá thương mại trong Hiệp định CPTPP và EVFTA? Có thể tham khảo một số các án lệ về bảo vệ môi trường liên quan đến Điều XX của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994) để tìm ra gợi ý. Từ khoá: cam kết, cân bằng, môi trường, phát triển bền vững, thương mại
Trong số các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) có thể coi là những FTA thế hệ mới toàn diện nhất với những cam kết sâu rộng và toàn diện cùng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả những vấn đề phi thương mại như môi trường, trong đó có vấn đề quản lý bền vững tài nguyên rừng, cụ thể là gỗ. Những năm vừa qua, ngành chế biến xuất khẩu gỗ và sản phẩm của Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng. Chính sách của Chính phủ Việt Nam là ưu tiên phát triển ngành chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ bền vững, hiệu quả, hiện đại trên cơ sở hội nhập sâu vào thị trường khu vực và toàn cầu; sử dụng nguyên liệu gỗ hợp pháp; ứng dụng công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất; và phấn đấu để đưa Việt Nam trở thành một trong những nước hàng đầu trên thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ có thương hiệu uy tín, có giá trị gia tăng cao trong tổng kim ngạch. Để có thể đạt được mục tiêu này, một trong những yêu cầu quan trọng là hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển bền vững nguồn tài nguyên có giá trị này, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi hiệu quả các cam kết trong các hiệp định có liên quan.
Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái tự nhiên, sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu. Đa dạng sinh học ở Việt Nam mang lại lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng. Tuy nhiên, đất nước cũng đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái môi trường và suy giảm các hệ sinh thái do quá trình công nghiệp hóa. EVFTA và CPTPP đưa ra các quy tắc quan trọng về bảo vệ đa dạng sinh học. Các hiệp định thừa nhận rằng chủ quyền đối với tài nguyên quốc gia và quyền xác định việc tiếp cận nguồn gen thuộc về chính phủ mỗi quốc gia và tuân theo luật pháp trong nước. Họ sẽ cố gắng tạo điều kiện để tiếp cận nguồn gen đúng mục đích; tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn gen phải được sự đồng ý trước của nhà cung cấp, trừ khi được cung cấp bởi nhà nước tương ứng. Ngoài ra, Việt Nam phải tăng cường hợp tác và trao đổi thông tin với các bên ký kết khác về chiến lược, sáng kiến, chính sách, chương trình, kế hoạch hành động và các chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng nhằm ngăn chặn sự biến mất của đa dạng sinh học và giảm áp lực đa dạng sinh học. Bài báo này sẽ phân tích thực trạng các cam kết đa dạng sinh học của Việt Nam trong khuôn khổ EVFTA và CPTPP, đồng thời xác định những thách thức đối với Chính phủ Việt Nam trong việc củng cố pháp luật về đa dạng sinh học.
Tóm tắt bài viết Biến đổi khí hậu đã trở thành chủ đề tranh luận của cộng đồng quốc tế từ lâu. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về chính sách biến đổi khí hậu trong nhiều thập kỷ qua, người ta hiếm khi nhìn nhận mối liên hệ giữa thương mại và biến đổi khí hậu. Mặc dù vậy, thực tiễn pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy rằng các quy tắc thương mại môi trường của tổ chức này có thể giúp đáp ứng các mục tiêu chống biến đổi khí hậu (mặc dù các quy tắc liên quan của WTO chỉ xuất hiện dưới hình thức ngoại lệ chung và chỉ có nội dung chung). Khi Vòng đàm phán Doha bị đóng băng do các nước thành viên WTO không thể thống nhất về các quy tắc mới cho hệ thống thương mại toàn cầu, nhiều nước đã chuyển đàm phán các hiệp định thương mại song phương và khu vực (FTA) hướng tới tự do hóa thương mại mạnh mẽ giữa các quốc gia thành viên. Không chỉ vậy, các hiệp định này còn quy định nhiều vấn đề phi thương mại, yêu cầu chính phủ chịu trách nhiệm trong các chính sách môi trường và hạn chế khả năng cạnh tranh của các sản phẩm gây ra biến đổi khí hậu thông qua các quy định yêu cầu các quốc gia, duy trì cơ chế xử lý sản phẩm tuân thủ lượng khí thải phát ra trong quá trình sản xuất. Bài viết này sẽ đánh giá các cam kết của Việt Nam đối với quản lý biến đổi khí hậu trong khuôn khổ CPTPP và EVFTA, hai FTA thế hệ mới quan trọng nhất của Việt Nam. Việt Nam sẽ phải thực hiện các biện pháp và hành động tích cực hơn trong chống biến đổi khí hậu (ví dụ, hoàn thiện cơ chế mua bán khí thải, bảo vệ và chống suy thoái rừng, tăng cường tiết kiệm năng lượng, công nghệ phát thải thấp và năng lượng tái tạo, minh bạch thông tin và cơ chế tham vấn). Thông qua việc phân tích các quy định của EVFTA và CPTPP về biến đổi khí hậu, bài viết sẽ phản biện khung pháp lý của Việt Nam về quản lý biến đổi khí hậu, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Bài viết cuối cùng sẽ đưa ra một số khuyến nghị đối với luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo việc thực thi các FTA có hiệu quả.
Phần IV: Các lợi ích phi thương mại khác
Tóm tắt: Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, mâu thuẫn giữa quyền tiếp cận dược phẩm như một trong các quyền cơ bản của con người và các lợi ích về thương mại quốc tế càng trở nên rõ nét khi các nền kinh tế phát triển nhất đang nỗ lực hết mình trong cuộc đua tìm ra vaccine đối với dịch bệnh song song với việc bảo đảm kho dự trữ dược phẩm cung cấp cho công dân, thông qua những biện pháp mạnh mẽ như hạn chế/cấm xuất khẩu một số loại dược phẩm được cho là thiết yếu, cũng như ban hành quy định pháp luật về bắt buộc chuyển giao sáng chế đối với dược phẩm. Các biện pháp này mang tính chất nhạy cảm xét về nhiều khía cạnh của pháp luật thương mại quốc tế như thương mại hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ và cả đầu tư quốc tế, đặc biệt khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có những quy định đặc thù mà quốc gia thành viên cần phải quan tâm cân nhắc. Bài viết này sẽ phân tích quyền tiếp cận dược phẩm trong thời kỳ COVID-19 với liên hệ cụ thể tới quy định của những hiệp định trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và CPTPP, nhằm đưa ra lưu ý cho Việt Nam với tư cách quốc gia ký kết các hiệp định này. Từ khoá: quyền tiếp cận dược phẩm, COVID-19, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, WTO, CPTPP.
Tóm tắt Dưới tác động ở quy mô toàn cầu của đại dịch COVID-19, các quốc gia tiếp nhận đầu tư trên thế giới đã ban hành nhiều biện pháp khẩn cấp để chống lại tình trạng khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực. Hiện nay, các quy định bảo hộ đầu tư của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới- Hiệp định đối tác tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã thể hiện sự nỗ lực cân bằng giữa lợi ích công cộng và các quyền lợi của nhà đầu tư, liên quan đến các khía cạnh tố tụng và nội dung, thông qua một số điều khoản pháp lý quy định quyền ban hành pháp luật của nhà nước phù hợp với lợi ích công cộng trong những tình huống “cần thiết”. Tuy nhiên, các quy định trên lại không đủ rõ ràng để chính phủ có thể biện minh cho những biện pháp vi phạm hiệp định của mình. Điều này dẫn đến câu hỏi: Liệu, trong bối cảnh đại dịch COVID- 19, những quy định trong CPTPP có tạo ra cơ sở biện minh hiệu quả cho nhà nước khi đối mặt với những khiếu kiện của nhà đầu tư nước ngoài tại trọng tài đầu tư quốc tế? Vì vậy, bài viết này sẽ căn cứ vào pháp luật đầu tư quốc tế để phân tích bản chất và hậu quả pháp lý của các biện pháp khẩn cấp được ban hành trong thời kỳ đại dịch. Từ đo, đánh giá và đề xuất những cách thức biện minh hiệu quả dành cho nhà nước được quy định tại CPTPP trong trường hợp chính phủ bị nhà đầu tư nước ngoài khiếu kiện. Từ khóa: hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, CPTPP, biện pháp khẩn cấp, đại dịch COVID- 19, cơ sở biện minh, các mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng chính đáng, quyền lực công cộng
Sự xuất hiện và lây lan nhanh chóng của virus SARs-Covi-2 trên toàn thế giới cùng với mức độ tàn phá nghiêm trọng đến sức khoẻ con người của virus này khiến nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và an ninh quốc gia. Các biện pháp này, từ góc độ pháp luật đầu tư quốc tế, có thể bị xem là biện pháp tước đoạt tài sản của nhà đầu tư nếu biện pháp đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khoản đầu tư và dó đó đặt ra nghĩa vụ bồi thường thoả đáng cho nhà đầu tư. Trong bối cảnh đó, học thuyết về quyền kiểm soát vì lợi ích công (police power) có thể được viện dẫn để giúp các quốc gia này không phải bồi thường cho nhà đầu tư, được phát triển theo thời gian và quy định cụ thể trong các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên như CP-TPP và EVFTA. Tuy nhiên, việc học thuyết này có được áp dụng khi xem xét một biện pháp do một nhà nước thực hiện để kiểm soát dịch bệnh hay không còn tuỳ thuộc vào quy định cụ thể của hiệp định bảo hộ đầu tư và mà quốc gia đó ký kết và việc giải thích hiệp định đó. Bài viết này thảo luận về vấn đề bảo vệ sức khoẻ cộng đồng như một lợi ích công cộng để vận dụng học thuyết Police power trong bối cảnh đầu tư quốc tế, khi các quốc gia ngày càng quan tâm hơn đến việc bảo lưu không gian chính sách cần thiết nhằm đảm bảo quyền bảo vệ sức khoẻ, an ninh và phúc lợi xã hội của nhà nước, đặc biệt đặt trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Bài viết cũng sẽ đánh giá tầm quan trọng của học thuyết này trong thực tiễn đàm phán các hiệp định đầu tư quốc tế, đặc biệt là các hiệp định mà Việt Nam là thành viên, nhằm khuyến nghị các quốc gia đánh giá lại các kế hoạch và chiến lược phát triển của mình nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.
Bảo vệ môi trường, giải quyết mối đe dọa biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm lớn của các bên đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Việt Nam nói riêng. Gần đây, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), trong đó đề xuất việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như là một phương thức thay thế hữu hiệu các nguồn năng lượng truyền thống gây ô nhiễm. Chương VII EVFTA đã ghi nhận minh thị cam kết hợp tác của các bên trong việc hạn chế các rào cản phi thuế quan và phối hợp áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực đặc biệt này. Bên cạnh các cam kết tự do hóa thương mại, Điều 7.6 của chương VII cũng dành một số ngoại lệ cho các thành viên để đảm bảo các lợi ích phi thương mại của quốc gia. Bài viết sẽ trình bày một số lợi ích phi thương mại của Việt Nam trong hoạt động thương mại và đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo, từ đó đánh giá mức độ bảo vệ các lợi ích này tại Chương VII EVFTA. Từ khóa : năng lượng tái tạo, lợi ích phi thương mại, ngoại lệ, EVFTA
Tóm tắt Thương mại thực phẩm chiếm một phần quan trọng trong thương mại toàn cầu, và người tiêu dùng trong nước ngày càng quan tâm hơn đến tính an toàn của thực phẩm nhập khẩu. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiện được đổi tên thành Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đại diện cho một mô hình mới của các hiệp định thương mại khu vực lớn, nhằm đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn cho việc vừa thúc đẩy tự do hóa thương mại nhưng cũng đảm bảo quyền được bảo vệ sức khỏe nói chung và quyền được cung cấp thực phẩm an toàn nói riêng của công dân các quốc gia thành viên. Chính vì vậy, CPTPP quy định thêm các quy định về các biện pháp kiểm dịch động - thực vật (SPS) của các thành viên so với quy định trong Hiệp định SPS của WTO. Những quy định này có thể gọi là “SPS cộng”. Bài viết phân tích sự phát triển của “SPS cộng” trong các hiệp định thương mại khu vực (RTA ); biểu hiện “SPS cộng” thông qua quy định về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học trong CPTPP; cơ hội và thách thức khi thực hiện các yêu cầu “SPS cộng” về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học khi ban hành các quy định nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu tại Việt Nam.
Inte et đang dần thay đổi cách chúng ta vận hành thương mại quốc tế. Bên cạnh những khía cạnh thương mại truyền thống như thương mại hàng hóa, dịch vụ và các khía cạnh thương mại về sở hữu trí tuệ, kinh thế thế giới không thể phủ nhận sự tồn tại của thương mại dữ liệu. Khả năng truyền dữ liệu xuyên biên giới quốc gia trở thành một phần sống còn trong sự phát triển và vận hành kinh doanh thường nhật, đặc biệt là đối với doanh nghiệp đa quốc gia trong các lĩnh vực như IT, e-commerce, tài chính và công nghệ cao. Hầu như mọi hoạt động kinh tế mà trong đó có ứng dụng inte et đều phải lệ thuộc vào việc thu thập, chuyển giao, xử lý thông tin dữ liệu của khách hàng, cá nhân, người tiêu dùng, thông tin kinh doanh….. “ Không chuyển giao được dữ liệu, không có thương mại ” [1] hoàn toàn có thể trở thành một rào cản thực tiễn cho thương mại xuyên biên giới quốc gia. Vấn đề là tại sao các quốc gia lại phải cản trở việc chuyển giao dữ liệu xuyên biên giới quốc gia trong khi việc này là cực kỳ cần thiết cho hoạt động thương mại quốc tế? Câu trả lời đó chính là quyền riêng tư và an ninh mạng. Thực vậy, mỗi quốc gia sẽ có những giá trị văn hóa khác biệt nhau đối với hai phạm trù này, ở đâu, vấn đề quyền riêng tư được coi như là quyền con người thì các quy định về quyền riêng tư cũng sẽ khắc khe hơn. [2] Để thực hiện mục tiêu này, ý tưởng hạn chế dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới, yêu cầu kỹ thuật khi lưu chuyển dữ liệu hay kể cả là yêu cầu người thu thập dữ liệu phải đặt dữ liệu tại lãnh thổ quốc gia của mình sẽ giúp quốc gia đó bảo vệ được khối dữ liệu (bao gồm cả các dữ liệu về cá nhân và phi cá nhân) khỏi những hành vi xâm phạm cả về quyền riêng tư và an ninh mạng, điều có thể sẽ khiến các thương nhân phải đầu tư nhiều hơn để đáp ứng. Chung quy lại, trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, quốc gia luôn phải cân nhắc hai khía cạnh, một mặt là tự do hơn trong việc tiếp cận dữ liệu để thu hút đầu tư, phát triển thương mại nhưng mặt còn lại là những giá trị cốt lõi về quyền riêng tư, an ninh mà quốc gia cần phải bảo vệ. Việt Nam cũng không ngoại lệ khi phải đối mặt với vấn đề này, đặc biệt là trong khuôn khổ những hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Một trong những các cam kết mới mà Việt Nam phải thực hiện là những quy định liên quan đến lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới. Việt Nam phải mở cửa tự do dich chuyển dữ liệu như thế nào và tác động của nó đối với hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam ra sao sẽ là những vấn đề sẽ được phân tích trong bài viết này. [1] “No Transfer, No trade” theo cách gọi của Kommerskollegium, National Board of Trade trong No Transfer, No trade – The importance of Cross-border Data Transfers for Companies Based in Sweden, Fisrt Edition, 01-2014, . ISBN: 978-91-86575-76-2. [2] Gloria O. Pasadilla. Next generation non-tariff measure: Emerging data policies and barriers to digital trade, ARTNeT Working Paper Series No. 187, January 2020, Bangkok ESCAP.
Part 1: Overview of New-Gen FTAs
Recognizing the important role played by the public in the enforcement of non-trade rules , some of the new generation free trade agreements to which Vietnam is a party have included mechanisms for public participation. These mechanisms continue to be supplemented and enforced by the domestic laws of some parties, including the United States or the European Union. Therefore, the article focuses on clarifying the content of the relevant mechanisms as well as analyzing some of the problems posed for Vietnam when implementing these mechanisms. Key words: public; non-trade rules; implementation; new generation free trade agreement, Vietnam.
Abstract: The trade agreements of a “new generation” are known to attempt to integrate human conce s about the environment and climate change in order to find a balance with economic development. However, these efforts can only be achieved by applying specific provisions for dispute settlement, such as the standards for investor treatment and protection, the exceptions for the host state’s right to regulate. As the language of these provisions are ambiguous and can create many ways of interpretation, inte ational jurisdictions tend to invoke the "Objects and Purposes" of the treaty to provide a relevant interpretation of the “ordinary meaning” of a given rule. The goal "Sustainable development" is expected to be an important factor of interpretation in order to create a balance between economic development and environmental protection and social development. Nevertheless, the concept itself is controversial. This article proposes another goal, along with the "tool” of the principle of good faith, which can help to balance conflicting interests and to ensure the consistent interpretation of inte ational investment treaty. Keywords: sustainable development, good faith, interpretation of inte ational investment treaties.
In addition to broader scope and deeper level of commitments, the inclusion of non-trade issues is one main characteristic of mode new-generation FTAs, especially those of the EU. Whether partnering with developed or developing economies, the EU has been consistent in ‘exporting’ its values such as sustainable development, good gove ance and human rights to its trading partners. Paradoxically or not, the EU’s free trade agreements have been instrumental in facilitating the promotion of non-trade issues worldwide, notably in developing countries. Even though, the extent to which these non-trade issues provisions can change the respective situations in developing countries remains uncertain. This paper aims at analysing the EU’s rationale and purpose for the inclusion of non-trade issues in its FTAs, understanding the legal effects produced by these provisions and assessing their impacts in the preservation and protection of non-trade values in EU’s partner countries. Taking examples of EU’s new-generation FTAs, the research points out that while the EU is ambitious in exporting a wide range of non-trade values, these provisions effectively leaves implementation to parties’ goodwill and that the protection of non-trade values remains political while the sanctioning mechanisms are not always provided. In addition, insights as to the rationale for EU trading partners, particularly ASEAN countries, to accept non-trade rules within the Union’s new-generation FTAs will also be analysed. Key words : European Union, non-trade issues, new-generation FTAs, European values, legal harmonization, ASEAN
Abstract: The World Trade Organization (WTO) was founded in 1995 on multilateral trade commitments between the Member States with the expectation of being an organization that promotes economic growth, enhances people's lives, and eliminates trade barriers. After 25 years of establishment and development, besides its recorded achievements, the WTO has faced many challenges in the 21st-century global economy, typically the proliferation of regional economic integrations and the rise of neo-protectionism in developed countries. The increased role of Free Trade Agreements at the bilateral and regional levels, especially the new generation agreements, has been significant in a changing world trade context that witnesses multilateral negotiations' slowdown. These agreements cover traditional negotiations and commitments far beyond the existing WTO rules regarding public interests, prompting signatory states to make domestic policy adjustments. This article focuses on analyzing the impact of implementing the commitments on labor and the environment of the European Union - Viet Nam Free Trade Agreement (FTA) - a new generation agreement to which Vietnam is a signatory, on Vietnam's domestic policy. It then provides some proposals to maximize the benefits gained from joining such an agreement. Key words : Free trade agreements, multilateral trade negotiations, EVFTA, non-tariff measures, labor, environment.
Facing the impasse of the World Trade Organization (WTO) on the issues of global multilateral trade liberalization, countries have established free trade zone by signing new generation free trade agreements with broader issues than traditional free trade agreements such as sustainable development, environmental protection, anti-corruption, labor, human rights, etc. Following that trend, Vietnam has participated in negotiating and signing many new generation free trade agreements with many partners such as the European Union (EVFTA) or the countries of Pacific Asia (CPTPP). These new FTAs not only affect economic and trade activities of Vietnam, but they also contribute significantly to the improvement of the legal and policy institutions in the current period. In this paper, the author will give the most general issues about new generation FTAs, thereby analyzing the impact of these FTAs on the formulation and improvement of Vietnamese policies and laws currently and in the future. From there, the author makes appropriate conclusions and suggestions. Key words: FTA; policy; law; impact; Vietnam.
Part 2: Labour in FTAs
This paper focuses on the integration of labour provisions in new-generation free trade agreements, in particular the EVFTA and the CPTPP. The author aims to answer to the following questions: Does this integration contribute to reduce the “fragmentation” of inte ational law, as well as its side effects? Does this integration help to protect better labour rights?
Abstract This paper discusses the interaction between (human rights) non-trade and trade provisions. The role and place of human rights in free trade agreements (FTAs) in the context of the World Trade Organization and public inte ational law, the European Union, Vietnam and Canada are specifically examined. Keywords: Free trade agreements (FTAs), non-trade provisions, human rights, World Trade Organization, European Union, Vietnam, Canada.
Abstract: This article focuses on studying and clarifying legal issues related to commitment to eliminate forced labour under new-generation free trade agreements (FTAs), among which Vietnam is a member, especially the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans- Pacific Partnership (CPTPP), the European- Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) and Vietnam –Eurasian Economic Union Free Trade Agreement (VN-EAEU FTA). Particularly, the paper also focuses on analyzing, evaluating as well as commenting the similarities and differences between Vietnam labour legal systems and these FTAs on elimination of forced labour, and thus supposes some suggestions for the effective implementation of this commitment.
In recent times, Vietnam has achieved many important achievements in the process of world economic integration through actively participating in the network of new generation Free Trade Agreements (FTAs). More recently, the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership - CPTPP and the Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EU) - EVFTA. In order for the contents of Vietnam committed in the two above Agreements to be effectively implemented in practice, Vietnam needs to continue to develop and perfect the legal and policy system according to the roadmap. This has a significant impact on the Vietnamese labor legal system because one of the important contents of the two Agreements is on labor with the focus on: i) Freedom of association and essentially recognization of the right to collective bargaining, ii) End all forms of coerced or forced labor, iii) Effectively eliminate child labor, iv) End employment and career discrimination. In which, the right to freedom of association of employees is a commitment content that is especially interested because this is a new point that the previous Vietnamese labor law system has not been specifically recognized. In the scope of this article, the author will present some points of impact of the CPTPP Agreement and the EVFTA Agreement on employees' right to freedom of association in Vietnamese enterprises. The article is structured in three parts: i) The employees' right to freedom of association under the CPTPP Agreement and the EVFTA Agreement; ii) The impact of the CPTPP and EVFTA Agreement on Vietnamese labor laws' regulations on freedom of association of employees; iii) Responsibilities of Vietnamese enterprises in the context of expanding freedom of association for employees under CPTPP and EVFTA agreements.
Part 3: Environment in FTAs
Climate change has long been discussed by the inte ational community. However, in the discussion on climate change policy over the decades, the link between trade and climate change was rarely noticed by the gove ments. Hence, the legal practices of the World Trade Organization (WTO) suggests that its environmental trade rules can help respond to anti-climate change goals (although the related rules of WTO appear only under form of general exceptions and with general content only). As the Doha Round was frozen because the WTO member states were unable to agree on new rules for the global trading system, the countries moved towards trade agreements. The new generation of bilateral and regional agrements (FTA) aim at promoting trade liberalization among member states. Not only that, they also stipulate many non-conventional trade issues, request the gove ment be responsible in environmental policies, and limit the competitiveness of products that cause climate change through the regulations requiring the countries to maintain a mechanism to treat products in accordance with the amount of emissions emitted in the manufacturing process. This paper will assess the Vietnam’s commitments on climate change management under the CPTPP and EVFTA, the two most important new-generation FTA of Vietnam. Accordingly, Vietnam shall take measures and take more active action in combating climate change (for example, completing the emission trading mechanism, protecting and combating forest degradation, and strengthening energy saving, low emission technology and renewable energy, information transparency and consultation mechanism). Through the analysis of the EVFTA and CPTPP regulations on climate change, the paper would critically analyzes the Vietnamese legal framework on climate change management, especially the 2014 Law on Environmental Protection. The paper finally proposes some recommendations to Vietnamese environmental laws to ensure the efficient implementation of the FTAs.
Vietnam is recognized as one of the countries that have high biodiversity in the world, with many types of natural ecosystems, organisms, rich and endemic genetic resources. The biodiversity in Vietnam brings direct benefits to people and makes a great contribution to the economy, especially in agriculture, forestry and fisheries; it is the basis for ensuring national food security, maintaining genetic sources for breeding animals and plants. However, the country is also facing the condition of environmental degradation and the decline of the ecosystems due to the process of industrialization. The EVFTA and CPTPP provide substantial rules on protection of biodiversity. The agreements recognize that sovereignty over national resources and the right to determine access to genetic resources belong to the gove ment of each country and subject to domestic laws. They shall endeavor to facilitate access to genetic resources for the right purposes; however, access to genetic resources must be subject to prior informed consent of the provider, unless provided by the respective state. In addition, the Vietnam must enhance cooperation and exchange of information with other contracting parties on the strategies, initiatives, policies, programs, action plans and consumer awareness campaigns to prevent the disappearance of biodiversity and reduce biodiversity pressure. This paper will analyze the status of biodiversity commitments of Vietnam under the EVFTA and CPTPP and identify the challenges for Vietnamese gove ment in strengthening the national law on biodiversity.
In the context of the growing awareness of the important role of trade cooperation at different levels and perspectives, promoting the signing of new generation FTAs with the modification scope that beyond the basic commercial problems is essential. The new generation FTAs have created opportunities and challenges to the Vietnamese legal system, including regulations on the environmental field. This paper aims at analyzing the effects of the new generation FTAs on the development of Vietnamese laws and regulations on sustainable management of forest resources. As a result, it provides recommendations to improve Vietnamese law in such area in order to increase implementation efficiency of environmental commitments in the FTAs to which Vietnam is a member.
Abstract: The Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and European Union – Vietnam Free Trade Agreement both include commitments on environmental protection in inte ational trade. Contracting parties to such agreements, therefore, must comply with the trade liberalization obligations and environmental protection obligations under the multilateral environmental agreements (MEAs) concurrently. However, how to apply a trade restrictive measure aimed at protecting the environment without violating trade commitments in the CPTPP and EVFTA? Study on a number of trade and environment disputes invoking Article XX of the General Agreement on Tariffs and Trade (GATT) can offer some suggestions. Keywords: commitments, balancing, environment, sustainable development, trade
Từ khóa: commitments, balancing, environment, sustainable development, trade
Abstract Foreign investment and environment protection is at the heart of sustainable development. Nevertheless, in the last few years, inte ational investment disputes related to environment issues have been on the increase. The dispute practice has manifested that the state’s right to regulate the environment, which is inherent in the sovereignty of state, can be challenged by the claim for breach of investment protection obligations and compensation request made by foreign investors. Furthermore, the traditional inte ational investment agreements commonly prescribe the obligation of host states to foreign investment, but rarely incorporate the symmetrical obligation for foreign investor to the environment protection in the host state. This creates the imbalance between host state and foreign investor. This fact raises the urgent need for a tool to balance the rights and interest of host state and foreign investor. One of the tools expected to contribute to the reconciliation, and establish a more solid basis for host state to pursue environmental goal besides the economic development goal, is the environmental provisions in the new generation free trade agreements. This article will analyze the roles of the environmental provisions in the new generation free trade agreements in reconciling the asymmetry between the foreign investor’s rights and the state’s right to regulate the environment. Keywords: environmental provisions, right to regulate, reconciling the asymmetry, foreign investment, new generation free trade agreements
On November 12, 2018, the National Assembly of Vietnam vetoed a Resolution ratification of the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership and became the seventh member of the agreement. Joining the agreement is considered to bring many economic benefits to Vietnam, but besides that, this also left many challenges, especially in the issue of compliance with environmental commitments in this Agreement. Starting from that fact, the article focuses on (i) analyzing and clarifying some of the environmental commitments in the CPTPP, (ii) pointing out some of Vietnam's challenges in complying with the implementation of environmental commitments in this Agreement, (iii) thereby making a number of final recommendations. Keyword: CPTPP Agreement, implementation of commitments, environmental protection, Vietnam.
Part 4: Other Non-Trade Benefits
Inte et is changing the way we operate inte ational trade. Besides traditional commercial aspects such as trade in goods, services, and commercial aspects of intellectual property, the existence of data trade is undeniable. The ability to transmit data across national borders becomes a vital part of daily business development and operation, especially for multinational enterprises in areas such as IT, e-commerce, finance and high technology. Almost all economic activities with inte et applications must depend on the collecting, transfering and processing of data of customers, individuals, consumers, business information .... " No transfer, no trade" could be able to become a practical barrier to cross-border trade. The question is why countries must hinder cross-border data transfer when it is essential for inte ational trade? The answer is privacy and cybersecurity. Limiting cross-border data flows, technical requirements for data flow or even requiring data collectors to place data in their own country territory to ensure protection that block of data. In the current inte ational trade context, the country always has to consider two aspects, one is more freedom in accessing data to attract investment and trade development, but the other side is the core values have to protect, as privacy and security. When it comes to the privacy and security in Inte et platform, especially with the existence of the framework of new generation trade agreements such as CPTPP and EVFTA. Within CPTPP and EVFTA, Vietnam has made new commitment relating to regulations of cross-border data transfer. This article will examine the impacts of these commitments on Vietnamese law.
Food trade accounts for a major part of global trade, and domestic consumers are increasingly conce ed about the safety of imported food. The Trans-Pacific Partnership Agreement (TPP), now rebranded as the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP), represents a new model of mega-regional trade agreements, to set higher standards for promoting trade liberalization and ensuring the right to health protection in general and the right to safe food in particular of the citizens of member states. Therefore, the CPTPP stipulates more provisions on sanitary and phytosanitary (SPS) of members compared with the provisions of the SPS Agreement. These rules can be called “SPS plus”. This article analyzes the development of “SPS plus” in regional trade agreements (RTA); expression “SPS plus” through regulations on risk assessment and scientific evidence in the CPTPP; opportunities and challenges in implementing “SPS plus” requirements for risk assessment and scientific evidence when enacting regulations to ensure the safety of imported food in Vietnam.
Environmental protection, climate change has become a major conce of the parties negotiating and signing new generation free trade agreements in general and Vietnam in particular. Recently, Vietnam has signed a Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EVFTA), which proposes promoting the development of renewable energy as an effective alte ative to polluted traditional energy. Chapter VII EVFTA noted explicitly the commitments of the parties to cooperate towards removing or reducing non-tariff barriers and fostering cooperation, taking into account, where appropriate, regional and inte ational standards. In addition to trade liberalization commitments, Article 7.6 of Chapter VII also regulates exceptions to members to protect the nation's non- trade issue. The paper will present certain Vietnam's non-trade issues in trade and investment in renewable energy generation, and then evaluate the degree of protection of these the mentioned issues in Chapter VII EVFTA.
Abstract: The global emergence and rapid spread of SARs-Covi-2 virus coupled with the serious devastation to human health has triggered many countries over the world to take series of measures for public health and national security protection. These measures, from the perspective of inte ational investment law, may be considered as expropriation of the foreign investor's assets if such measures seriously affect the investment and thus impose the host State adequate compensation liability. In this context, the police power doctrine can be invoked to prevent the claim for compensation from the investors, which is developed and adopted in new generation free trade agreements to which Vietnam is a member such as CP-TPP and EVFTA. However, whether this doctrine can be applied when considering a measure taken by a state to control the pandemic is subject to the specific provisions of the investment protection agreement and their interpretation. This article discusses the issue of protecting public health nested in the public interests to apply the police power doctrine in the context of inte ational investment, as countries have become increasingly attentive in preserving policy space to ensure their regulatory right, especially in the context of the Covid-19 pandemic. The paper will also evaluate the importance of this doctrine in the practice of negotiating inte ational investment agreements, especially those to which Vietnam is a signatory, in order to encourage countries to reassess development policy and strategy to achieve sustainable development goals. Keywords: COVID-19, CPTPP, EVFTA, police power, public health protection, inte ational investment.
Abstract Due to the global-scale impact of the pandemic COVID-19, the investors have witnessed an increasing trend of the adoption of national emergencies by the host State to fight against the crisis in various sectors. Currently, the investment protection system in the newly-emerged Free Trade Agreement (FTA)- The Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) strives to shift the equilibrium of public interests and the investor’s rights into a more balanced position in both procedural and substantive aspects, some legal provisions regarding the scope of the State’s right to regulate within its police powers in certain “ necessary ” situations are deemed to be too vague to ensure the basis for a State's emergency measure. Here poses the question amidst the context of a pandemic that whether the investment provisions in such FTA are effective legal defense for host States to deal with arbitration claims brought by foreign investors. Hence, the paper analyses the nature of and legal consequences from the host state’s emergency measures adopted during the COVID-19 pandemic under the inte ational investment law, to assess and propose potential shields under CPTPP against arbitration claims for host States in such a controversial context. Keywords: new-generation FTA, CPTPP, emergency measures, COVID- 19 pandemic, legal defenses, legitimate public welfare objectives, public power.
Abstract: During the COVID-19 pandemic, the clash between the right to access to medicines as a fundamental human right and the economic interests of inte ational trade become more pronounced. Developers are doing their best in the race to find vaccines for the epidemic, while the States are struggling to ensure stockpiles of pharmaceuticals for domestic needs by implementing restriction/ban on the export of pharmaceuticals considered essential to fight against COVID-19, as well as enacting regulations on compulsory licensing for pharmaceuticals. These measures are sensitive in terms of various aspects of inte ational trade law such as trade in goods, intellectual property rights and inte ational investment, especially when the new generation of free trade agreements, such as the Trans-Pacific Partnership Agreement (CPTPP), contain specific provisions that member countries should take into account. This article will analyze the right to access to medicines during the COVID-19 pandemic with specific references to the provisions of the World Trade Organization (WTO) agreements and the CPTPP, with the aim of wa ing for future acts from Vietnam as a member of these free trade mechanisms. Keywords: right to access to medicines, COVID-19, intellectual property, inte ational trade, WTO, CPTPP.
Environmental protection, climate change has become a major conce of the parties negotiating and signing new generation free trade agreements in general and Vietnam in particular. Recently, Vietnam has signed a Free Trade Agreement between Vietnam and the European Union (EVFTA), which proposes promoting the development of renewable energy as an effective alte ative to polluted traditional energy. Chapter VII EVFTA noted explicitly the commitments of the parties to cooperate towards removing or reducing non-tariff barriers and fostering cooperation, taking into account, where appropriate, regional and inte ational standards. In addition to trade liberalization commitments, Article 7.6 of Chapter VII also regulates exceptions to members to protect the nation's non- trade issue. The paper will present certain Vietnam's non-trade issues in trade and investment in renewable energy generation, and then evaluate the degree of protection of these the mentioned issues in Chapter VII EVFTA.
Thời gian: 29/09/2020