Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ Mới và các vấn đề phi thương mại

Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ Mới và các vấn đề phi thương mại

International Conference

29/09/2020 Ngôn ngữ sự kiện: Tiếng Việt

Phần I: Tổng quan FTA thế hệ mới

Tóm tắt Trước tình trạng bế tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về vấn đề tự do hóa thương mại đa phương toàn cầu, các quốc gia đã thiết lập các khu vực tự do thương mại qua việc ký kết các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới với những vấn đề rộng hơn những thỏa thuận tự do thương mại truyền thống như vấn đề về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phòng chống tham nhũng, lao động, quyền con người, … Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết nhiều hiệp định tự do thương mại thế hệ mới với nhiều đối tác lớn như Liên minh châu Âu (EVFTA) hay các quốc gia khu vực châu Á Thái Bình Dương (CPTPP); v.v... Những FTA mới này không chỉ tác động đến hoạt động kinh tế, thương mại của Việt Nam, mà chúng còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện thể chế chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trong bài viết này, tác giả  sẽ đưa ra những vấn đề tổng quan nhất về các FTA thế hệ mới, từ đó phân tích những tác động của những FTA này tới việc xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật Việt Nam trong thời gian qua và trong tương lai. Từ đó tác giả đưa ra những kết luận và đề xuất thích hợp. Từ khóa: FTA; chính sách; pháp luật; tác động; Việt Nam.

Tóm tắt: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1995 trên nền tảng của các cam kết thương mại đa phương với kỳ vọng là một tổ chức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và xoá bỏ các rào cản thương mại. Sau 25 năm hình thành và phát triển, bên cạnh những thành tựu được ghi nhận, WTO đối mặt với rất nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thế kỷ 21, điển hình là sự bùng nổ của các liên kết kinh tế khu vực và sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ kiểu mới tại các nước phát triển. Hiện nay, đối với các quốc gia trên thế giới vai trò của các Hiệp định Thương mại tự do ở cấp độ Song phương và Khu vực, đặc biệt là các hiệp định thế hệ mới, trở nên ngày càng quan trọng trong bối cảnh thuơng mại thế giới đang thay đổi nhanh chóng với sự chững lại của các đàm phán thương mại ở cấp độ đa phương. Nội dung của các hiệp định này bao trùm không những các đàm phán truyền thống mà còn có cả các cam kết xượt xa khỏi những quy định hiện hành của WTO liên quan đến các yếu tố phi thương mại, khiến các quốc gia ký kết phải có những điểu chỉnh chính sách nội địa cho phù hợp. Bài viết tập trung phân tích tác động của việc thực thi các cam kết về lao động và môi trường của các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia, điển hình là Hiệp định Việt Nam – Liên Minh Châu Âu (EVFTA), đối với chính sách nội địa của Việt Nam, từ đó đề xuất một số định hướng nhằm tối đa hoá lợi ích đạt được khi tham gia vào các hiệp định này. Từ khóa : Hiệp định thương mại tự do, thương mại đa phương, EVFTA, các biện pháp phi thuế quan, lao động, môi trường.

Bên cạnh việc có mức độ cam kết sâu và rộng, sự xuất hiện của các quy định phi thương mại được xem là một đặc trưng căn bản trong các FTA thế hệ mới, nhất là với những hiệp định của Liên minh Châu Âu (EU). Cho dù đối tác là nước phát triển hay đang phát triển, EU vẫn nhất quán trong việc ‘xuất khẩu’ các giá trị phi thương mại, gồm có yếu tố liên quan đến phát triển bền vững, quản trị hiệu quả và quyền con người trong các hiệp định song phương với đối tác. Dù tồn tại nghịch lý, chính các hiệp định thương mại tự do lại có vai trò như là công cụ tạo thuận lợi cho việc truyền bá các giá trị phi thương mại của EU trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt với các nước đang phát triển. Tuy vậy, mức độ và khả năng tác động của những quy định này đối với thực tiễn các vấn đề phi thương mại tại các nước đang phát triển vẫn cần được nghiên cứu thêm. Bài viết này hướng tới việc làm rõ mục tiêu và cơ sở của EU khi đưa các nội dung phi thương mại vào FTA, tìm hiểu ảnh hưởng về mặt pháp lý của các quy định này và xem xét tác động đối với việc bảo tồn và bảo vệ các giá trị phi thương mại tại các nước đối tác của EU. Trên cơ sở phân tích nội dung cụ thể của FTA thế hệ mới của Liên minh Châu Âu, bài viết chỉ ra rằng mặc dù EU có mục tiêu tham vọng trong việc xuất khẩu các giá trị phi thương mại, việc thực thi các quy định này trên thực tế lại phụ thuộc vào ý chí của các bên trong khi vấn đề bảo vệ các giá trị phi thương mại ở nước đối tác còn mang tính chính trị và không phải lúc nào FTA cũng có chế tài dành cho bên vi phạm. Ngoài ra, bài viết cũng chỉ ra những cơ sở để các đối tác của EU, cụ thể là quốc gia thuộc ASEAN, chấp nhận nhóm quy định phi thương mại trong các FTA thế hệ mới song phương với EU. Từ khoá : Liên minh Châu Âu, vấn đề phi thương mại, FTA thế hệ mới, giá trị Châu Âu, hài hoà hoá pháp lý, ASEAN

Các hiệp định thương mại thế hệ mới được biết đến với nỗ lực ghi nhận các mối quan tâm của nhân loại về môi trường và biến đổi khí hậu, nhằm tìm kiếm sự cân bằng với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, các nỗ lực này chỉ có thể đạt được hiệu quả thông qua việc áp dụng các điều khoản cụ thể khi giải quyết tranh chấp như các tiêu chuẩn về đối xử và bảo vệ nhà đầu tư, các ngoại lệ cho quyền điều chỉnh pháp luật của quốc gia tiếp nhận vốn. Trong bối cảnh ngôn ngữ của các điều khoản này còn mơ hồ và tạo ra nhiều cách giải thích, các cơ quan tài phán có xu hướng viện dẫn đến “Đối tượng và mục tiêu” của điều ước quốc tế để đưa ra cách giải thích phù hợp nhất. Mục tiêu “Phát triển bền vững” được kỳ vọng là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích pháp luật nhằm tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, phát triển xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng mục tiêu này để giải thích các điều khoản cụ thể thì không đạt được kỳ vong vì bản thân khái niệm này còn nhiều tranh cãi. Bài viết này đề xuất một mục tiêu khác phù hợp hơn, cùng với “công cụ” là nguyên tắc thiện chí trung thực (principle of good faith) để đạt đến sự cân bằng các lợi ích xung đột và đóng góp vào việc giải thích thống nhất điều ước quốc tế về đầu tư. Từ khóa : phát triển bền vững, nguyên tắc thiện chí trung thực, giải thích điều ước đầu tư quốc tế

Tóm tắt: Nhận thức được vai trò quan trọng của công chúng trong quá trình thực thi các quy định phi thương mại, một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đã hàm chứa các cơ chế về sự tham gia của công chúng. Các cơ chế đó tiếp tục được bổ sung và đảm bảo thực thi bằng những quy định pháp luật nội địa của một số bên tham gia, trong đó có Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu. Do đó, bài viết tập trung làm rõ nội dung của các cơ chế có liên quan cũng như phân tích một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam khi thực thi những cơ chế này. Từ khóa : Công chúng; quy định phi thương mại; thực thi; hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Việt Nam

Tóm tắt: Trong một vài thập kỷ gần đây, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tạo nền tảng pháp lý để phát triển một nền kinh tế năng động, và hội nhập. Một điều thú vị đó là, mặc dù các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bao gồm các quy định và cam kết sâu hơn trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng Việt Nam chưa từng tận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các hiệp định này. Đặt trong bối cảnh tính tương đồng của các quy định và các cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên trong các điều ước thương mại quốc tế này, cũng như thực tiễn các tranh chấp trong WTO liên quan tới các giá trị phi thương mại rất phong phú và đa dạng, bài viết sẽ nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO liên quan tới các vấn đề bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật trong những tranh chấp điển hình. Bài viết lập luận rằng các quy định trong WTO hay các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vẫn sẽ có những khoảng trống giữa pháp luật điều chỉnh các vấn đề bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và thực tiễn tranh chấp. Bởi vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp, mặc dù không có thẩm quyền xây dựng các nguyên tắc pháp luật, nhưng vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp cũng rất quan trọng trong việc tìm ra đường hướng bảo vệ các giá trị này khi giải thích các quy định pháp luật và các nguyên tắc chung của luật cũng như tập quán quốc tế. Từ khoá : Giá trị phi thương mại, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, giải quyết tranh chấp, tổ chức thương mại thế giới.

Phần II: Lao động trong FTA

Tóm tắt: Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thông qua việc tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định tự do thương mại (FTA) thế hệ mới, gần đây nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) – EVFTA. Để các nội dung Việt Nam đã cam kết trong hai Hiệp định trên được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn, Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách theo lộ trình. Điều này có tác động không nhỏ đến hệ thống pháp luật lao động Việt Nam bởi một trong các nội dung quan trọng hai Hiệp định hướng tới đều bao gồm vấn đề về lao động với trọng tâm là: i) Tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể, ii) Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc, iii) Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em, iv) Chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Trong đó, quyền tự do liên kết của người lao động (NLĐ) là nội dung cam kết được quan tâm đặc biệt vì đây điểm mới mà hệ thống pháp luật lao động Việt Nam trước đó chưa được ghi nhận cụ thể. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ trình bày một số điểm tác động của Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA đến quyền tự do liên kết của NLĐ trong các doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết có kết cấu gồm ba phần: i) Quyền tự do liên kết của NLĐ theo Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA; ii) Tác động Hiệp định CPTPP và EVFTA đến các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về quyền tự do liên kết của NLĐ; iii) Trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mở rộng quyền tự do liên kết cho NLĐ theo Hiệp định CPTPP và EVFTA.

Tóm tắt: Quyền của lao động trẻ em là một trong những nội dung cơ bản về quyền của người lao động đã được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế quy định, nội dung này cũng được đề cập trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP nói riêng. Bài viết có những phân tích, đánh giá các nội dung về quyền của lao động trẻ em trong các quy định của pháp luật Việt Nam và trong nội dung Hiệp đinh CPTPP mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó, đối sánh được mức độ tương thích và phù hợp của pháp luật Việt Nam so với những yêu cầu của Hiệp định CPTPP về vấn đề bảo đảm quyền của lao động trẻ em. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của lao động trẻ em, phù hợp với những nội dung cam kết về lao động trong CPTPP. Từ khóa: Quyền lao động trẻ em, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến cam kết xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA [1] ) mà Việt Nam là thành viên mà điển hình là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP [2] ), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA [3] ) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á- Âu (VN-EAEU FTA [4] ). Đặc biệt, bài viết đi sâu phân tích, đánh giá, bình luận những điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật lao động Việt Nam và các FTA mà Việt Nam là thành viên về loại bỏ lao động cưỡng bức, qua đó kiến nghị một số giải pháp thực thi có hiệu quả các cam kết này.   [1] Tên tiếng Anh là: free trade agreement. Viết tắt là: FTA [2] Tên tiếng Anh là: Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership. Viết tắt là: CPTPP [3] Tên tiếng Anh là: EU- Vietnam Free Trade Agreement. Viết tắt là: EVFTA [4]   Tên tiếng Anh là: Vietnam – Eurasian Economic Union Free Trade Agreement. Viết tắt là: VN-EAEU FTA

Tóm tắt Bài viết trình bày mối liên hệ giữa vấn đề phi thương mại (quyền con người) và các điều khoản thương mại. Trong đó, tập trung đánh giá vai trò và vị trí của các quy định quyền con người trong hiệp định thương mại tự do trong bối cảnh của WTO, công pháp quốc tế, Liên minh Châu Âu, Việt Nam và Canada. Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, điều khoản phi thương mại, quyền con người, WTO, EU, Việt Nam, Canada.

Bài viết này nghiên cứu việc lồng ghép các điều khoản về lao động vào các hiệp định thương mại thế hệ mới, đặc biệt là các hiệp định mà Việt Nam tham gia (EVFTA và CPTPP). Từ đó, tác giả trả lời câu hỏi : liệu việc lồng ghép này có làm giảm bớt hiện tượng « phân mảnh » luật quốc tế, cũng như những mặt trái của hiện tượng này ? Liệu việc lồng ghép có giúp bảo vệ tốt hơn các quyền về lao động ?

Phần III: Bảo vệ Môi trường trong FTA

Tóm tắt Ngày 12/11/2018 Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và trở thành thành viên thứ bảy của hiệp định. Việc gia nhập vào hiệp định trên được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho Việt Nam, tuy nhiên bên cạnh đó thì điều này cũng để lại không ít khó khăn thách thức, đặc biệt là trong vấn đề về tuân thủ thực thi các cam kết môi trường trong Hiệp định này. Xuất phát từ thực tế đó, bài viết tập trung (i) phân tích, làm rõ một số nội dung cam kết môi trường trong Hiệp định CPTPP, (ii) chỉ ra một số thách thức của Việt Nam trong việc tuân thủ thực thi các cam kết môi trường trong Hiệp định này, (iii) từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện. Từ khóa: Hiệp định CPTPP, thực thi cam kết, bảo vệ môi trường, Việt Nam.

Đầu tư nước ngoài và bảo vệ môi trường vốn là các vấn đề trọng tâm của sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan đến vấn đề môi trường đã và đang ngày càng gia tăng. Thực tiễn tranh chấp cho thấy quyền ban hành chính sách của quốc gia đối với các vấn đề về môi trường, vốn thuộc quyền chủ quyền của quốc gia, có khả năng bị thách thức bởi các cáo buộc vi phạm nghĩa vụ bảo hộ đầu tư và yêu cầu bồi thường từ nhà đầu tư nước ngoài (“ NĐTNN ”). Hơn nữa, các hiệp định đầu tư quốc tế (“ IIA ”) truyền thống thường chỉ quy định nghĩa vụ của quốc gia đối với đầu tư nước ngoài, hiếm khi đưa ra nghĩa vụ tương xứng của NĐTNN về vấn đề bảo vệ môi trường ở quốc gia tiếp nhận đầu tư (“ QGTNĐT ”). Điều này tạo nên sự bất cân xứng quyền lợi giữa QGTNĐT và NĐTNN. Thực tế này đặt ra nhu cầu bức thiết phải có một công cụ nhằm cân bằng quyền và lợi ích của QGTNĐT và NĐTNN. Một trong những công cụ được kỳ vọng sẽ góp phần dung hoà quyền lợi của NĐTNN và QGTNĐT, tạo cơ sở vững chắc hơn cho QGTNĐT theo đuổi mục tiêu môi trường bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, đó chính là các điều khoản về môi trường trong các hiệp định thương mại tự do (“ FTA ”) thế hệ mới. Bài viết này sẽ phân tích vai trò của các quy định về môi trường trong FTA thế hệ mới đối với việc khắc phục sự bất cân xứng giữa quyền của NĐTNN và quyền ban hành chính sách vì môi trường của quốc gia. Từ khoá: điều khoản về môi trường, quyền ban hành chính sách, cân bằng sự bất cân xứng, đầu tư nước ngoài, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) đều bao gồm các cam kết về bảo vệ môi trường trong hoạt động thương mại quốc tế. Thành viên của hai Hiệp định này do đó phải đồng thời tuân thủ nghĩa vụ về tự do hoá thương mại, cũng như bảo vệ môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế (MEA) được quy định. Tuy nhiên, làm thế nào để áp dụng một biện pháp hạn chế thương mại, nhằm bảo vệ môi trường theo các MEA mà không vi phạm các nghĩa vụ về tự do hoá thương mại trong Hiệp định CPTPP và EVFTA? Có thể tham khảo một số các án lệ về bảo vệ môi trường liên quan đến Điều XX của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994) để tìm ra gợi ý.   Từ khoá: cam kết, cân bằng, môi trường, phát triển bền vững, thương mại

Trong số các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) có thể coi là những FTA thế hệ mới toàn diện nhất với những cam kết sâu rộng và toàn diện cùng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả những vấn đề phi thương mại như môi trường, trong đó có vấn đề quản lý bền vững tài nguyên rừng, cụ thể là gỗ. Những năm vừa qua, ngành chế biến xuất khẩu gỗ và sản phẩm của Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng. Chính sách của Chính phủ Việt Nam là ưu tiên phát triển ngành chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ bền vững, hiệu quả, hiện đại trên cơ sở hội nhập sâu vào thị trường khu vực và toàn cầu; sử dụng nguyên liệu gỗ hợp pháp; ứng dụng công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất; và phấn đấu để đưa Việt Nam trở thành một trong những nước hàng đầu trên thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ có thương hiệu uy tín, có giá trị gia tăng cao trong tổng kim ngạch. Để có thể đạt được mục tiêu này, một trong những yêu cầu quan trọng là hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển bền vững nguồn tài nguyên có giá trị này, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi hiệu quả các cam kết trong các hiệp định có liên quan.

Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái tự nhiên, sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu. Đa dạng sinh học ở Việt Nam mang lại lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng. Tuy nhiên, đất nước cũng đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái môi trường và suy giảm các hệ sinh thái do quá trình công nghiệp hóa. EVFTA và CPTPP đưa ra các quy tắc quan trọng về bảo vệ đa dạng sinh học. Các hiệp định thừa nhận rằng chủ quyền đối với tài nguyên quốc gia và quyền xác định việc tiếp cận nguồn gen thuộc về chính phủ mỗi quốc gia và tuân theo luật pháp trong nước. Họ sẽ cố gắng tạo điều kiện để tiếp cận nguồn gen đúng mục đích; tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn gen phải được sự đồng ý trước của nhà cung cấp, trừ khi được cung cấp bởi nhà nước tương ứng. Ngoài ra, Việt Nam phải tăng cường hợp tác và trao đổi thông tin với các bên ký kết khác về chiến lược, sáng kiến, chính sách, chương trình, kế hoạch hành động và các chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng nhằm ngăn chặn sự biến mất của đa dạng sinh học và giảm áp lực đa dạng sinh học. Bài báo này sẽ phân tích thực trạng các cam kết đa dạng sinh học của Việt Nam trong khuôn khổ EVFTA và CPTPP, đồng thời xác định những thách thức đối với Chính phủ Việt Nam trong việc củng cố pháp luật về đa dạng sinh học.

Tóm tắt bài viết Biến đổi khí hậu đã trở thành chủ đề tranh luận của cộng đồng quốc tế từ lâu. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về chính sách biến đổi khí hậu trong nhiều thập kỷ qua, người ta hiếm khi nhìn nhận mối liên hệ giữa thương mại và biến đổi khí hậu. Mặc dù vậy, thực tiễn pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy rằng các quy tắc thương mại môi trường của tổ chức này có thể giúp đáp ứng các mục tiêu chống biến đổi khí hậu (mặc dù các quy tắc liên quan của WTO chỉ xuất hiện dưới hình thức ngoại lệ chung và chỉ có nội dung chung). Khi Vòng đàm phán Doha bị đóng băng do các nước thành viên WTO không thể thống nhất về các quy tắc mới cho hệ thống thương mại toàn cầu, nhiều nước đã chuyển đàm phán các hiệp định thương mại song phương và khu vực (FTA) hướng tới tự do hóa thương mại mạnh mẽ giữa các quốc gia thành viên. Không chỉ vậy, các hiệp định này còn quy định nhiều vấn đề phi thương mại, yêu cầu chính phủ chịu trách nhiệm trong các chính sách môi trường và hạn chế khả năng cạnh tranh của các sản phẩm gây ra biến đổi khí hậu thông qua các quy định yêu cầu các quốc gia, duy trì cơ chế xử lý sản phẩm tuân thủ lượng khí thải phát ra trong quá trình sản xuất. Bài viết này sẽ đánh giá các cam kết của Việt Nam đối với quản lý biến đổi khí hậu trong khuôn khổ CPTPP và EVFTA, hai FTA thế hệ mới quan trọng nhất của Việt Nam. Việt Nam sẽ phải thực hiện các biện pháp và hành động tích cực hơn trong chống biến đổi khí hậu (ví dụ, hoàn thiện cơ chế mua bán khí thải, bảo vệ và chống suy thoái rừng, tăng cường tiết kiệm năng lượng, công nghệ phát thải thấp và năng lượng tái tạo, minh bạch thông tin và cơ chế tham vấn). Thông qua việc phân tích các quy định của EVFTA và CPTPP về biến đổi khí hậu, bài viết sẽ phản biện khung pháp lý của Việt Nam về quản lý biến đổi khí hậu, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Bài viết cuối cùng sẽ đưa ra một số khuyến nghị đối với luật môi trường Việt Nam nhằm đảm bảo việc thực thi các FTA có hiệu quả.

Phần IV: Các lợi ích phi thương mại khác

Tóm tắt: Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, mâu thuẫn giữa quyền tiếp cận dược phẩm như một trong các quyền cơ bản của con người và các lợi ích về thương mại quốc tế càng trở nên rõ nét khi các nền kinh tế phát triển nhất đang nỗ lực hết mình trong cuộc đua tìm ra vaccine đối với dịch bệnh song song với việc bảo đảm kho dự trữ dược phẩm cung cấp cho công dân, thông qua những biện pháp mạnh mẽ như hạn chế/cấm xuất khẩu một số loại dược phẩm được cho là thiết yếu, cũng như ban hành quy định pháp luật về bắt buộc chuyển giao sáng chế đối với dược phẩm. Các biện pháp này mang tính chất nhạy cảm xét về nhiều khía cạnh của pháp luật thương mại quốc tế như thương mại hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ và cả đầu tư quốc tế, đặc biệt khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có những quy định đặc thù mà quốc gia thành viên cần phải quan tâm cân nhắc. Bài viết này sẽ phân tích quyền tiếp cận dược phẩm trong thời kỳ COVID-19 với liên hệ cụ thể tới quy định của những hiệp định trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và CPTPP, nhằm đưa ra lưu ý cho Việt Nam với tư cách quốc gia ký kết các hiệp định này. Từ khoá: quyền tiếp cận dược phẩm, COVID-19, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, WTO, CPTPP.

Tóm tắt Dưới tác động ở quy mô toàn cầu của đại dịch COVID-19, các quốc gia tiếp nhận đầu tư trên thế giới đã ban hành nhiều biện pháp khẩn cấp để chống lại tình trạng khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực. Hiện nay, các quy định bảo hộ đầu tư của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới- Hiệp định đối tác tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã thể hiện sự nỗ lực cân bằng giữa lợi ích công cộng và các quyền lợi của nhà đầu tư, liên quan đến các khía cạnh tố tụng và nội dung, thông qua một số điều khoản pháp lý quy định quyền ban hành pháp luật của nhà nước phù hợp với lợi ích công cộng trong những tình huống “cần thiết”. Tuy nhiên, các quy định trên lại không đủ rõ ràng để chính phủ có thể biện minh cho những biện pháp vi phạm hiệp định của mình. Điều này dẫn đến câu hỏi: Liệu, trong bối cảnh đại dịch COVID- 19, những quy định trong CPTPP có tạo ra cơ sở biện minh hiệu quả cho nhà nước khi đối mặt với những khiếu kiện của nhà đầu tư nước ngoài tại trọng tài đầu tư quốc tế? Vì vậy, bài viết này sẽ căn cứ vào pháp luật đầu tư quốc tế để phân tích bản chất và hậu quả pháp lý của các biện pháp khẩn cấp được ban hành trong thời kỳ đại dịch. Từ đo, đánh giá và đề xuất những cách thức biện minh hiệu quả dành cho nhà nước được quy định tại CPTPP trong trường hợp chính phủ bị nhà đầu tư nước ngoài khiếu kiện. Từ khóa: hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, CPTPP, biện pháp khẩn cấp, đại dịch COVID- 19, cơ sở biện minh, các mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng chính đáng, quyền lực công cộng

Sự xuất hiện và lây lan nhanh chóng của virus SARs-Covi-2 trên toàn thế giới cùng với mức độ tàn phá nghiêm trọng đến sức khoẻ con người của virus này khiến nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và an ninh quốc gia. Các biện pháp này, từ góc độ pháp luật đầu tư quốc tế, có thể bị xem là biện pháp tước đoạt tài sản của nhà đầu tư nếu biện pháp đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khoản đầu tư và dó đó đặt ra nghĩa vụ bồi thường thoả đáng cho nhà đầu tư. Trong bối cảnh đó, học thuyết về quyền kiểm soát vì lợi ích công (police power) có thể được viện dẫn để giúp các quốc gia này không phải bồi thường cho nhà đầu tư, được phát triển theo thời gian và quy định cụ thể trong các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên như CP-TPP và EVFTA. Tuy nhiên, việc học thuyết này có được áp dụng khi xem xét một biện pháp do một nhà nước thực hiện để kiểm soát dịch bệnh hay không còn tuỳ thuộc vào quy định cụ thể của hiệp định bảo hộ đầu tư và mà quốc gia đó ký kết và việc giải thích hiệp định đó. Bài viết này thảo luận về vấn đề bảo vệ sức khoẻ cộng đồng như một lợi ích công cộng để vận dụng học thuyết Police power trong bối cảnh đầu tư quốc tế, khi các quốc gia ngày càng quan tâm hơn đến việc bảo lưu không gian chính sách cần thiết nhằm đảm bảo quyền bảo vệ sức khoẻ, an ninh và phúc lợi xã hội của nhà nước, đặc biệt đặt trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Bài viết cũng sẽ đánh giá tầm quan trọng của học thuyết này trong thực tiễn đàm phán các hiệp định đầu tư quốc tế, đặc biệt là các hiệp định mà Việt Nam là thành viên, nhằm khuyến nghị các quốc gia đánh giá lại các kế hoạch và chiến lược phát triển của mình nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

Bảo vệ môi trường, giải quyết mối đe dọa biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm lớn của các bên đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Việt Nam nói riêng. Gần đây, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), trong đó đề xuất việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như là một phương thức thay thế hữu hiệu các nguồn năng lượng truyền thống gây ô nhiễm. Chương VII EVFTA đã ghi nhận minh thị cam kết hợp tác của các bên trong việc hạn chế các rào cản phi thuế quan và phối hợp áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực đặc biệt này. Bên cạnh các cam kết tự do hóa thương mại, Điều 7.6 của chương VII cũng dành một số ngoại lệ cho các thành viên để đảm bảo các lợi ích phi thương mại của quốc gia. Bài viết sẽ trình bày một số lợi ích phi thương mại của Việt Nam trong hoạt động thương mại và đầu tư sản xuất năng lượng tái tạo, từ đó đánh giá mức độ bảo vệ các lợi ích này tại Chương VII EVFTA.  Từ khóa : năng lượng tái tạo, lợi ích phi thương mại, ngoại lệ, EVFTA

Tóm tắt Thương mại thực phẩm chiếm một phần quan trọng trong thương mại toàn cầu, và người tiêu dùng trong nước ngày càng quan tâm hơn đến tính an toàn của thực phẩm nhập khẩu. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiện được đổi tên thành Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đại diện cho một mô hình mới của các hiệp định thương mại khu vực lớn, nhằm đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn cho việc vừa thúc đẩy tự do hóa thương mại nhưng cũng đảm bảo quyền được bảo vệ sức khỏe nói chung và quyền được cung cấp thực phẩm an toàn nói riêng của công dân các quốc gia thành viên. Chính vì vậy, CPTPP quy định thêm các quy định về các biện pháp kiểm dịch động - thực vật (SPS) của các thành viên so với quy định trong Hiệp định SPS của WTO. Những quy định này có thể gọi là “SPS cộng”. Bài viết phân tích sự phát triển của “SPS cộng” trong các hiệp định thương mại khu vực (RTA ); biểu hiện “SPS cộng” thông qua quy định về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học trong CPTPP; cơ hội và thách thức khi thực hiện các yêu cầu “SPS cộng” về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học khi ban hành các quy định nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu tại Việt Nam.

Inte et đang dần thay đổi cách chúng ta vận hành thương mại quốc tế. Bên cạnh những khía cạnh thương mại truyền thống như thương mại hàng hóa, dịch vụ và các khía cạnh thương mại về sở hữu trí tuệ, kinh thế thế giới không thể phủ nhận sự tồn tại của thương mại dữ liệu. Khả năng truyền dữ liệu xuyên biên giới quốc gia trở thành một phần sống còn trong sự phát triển và vận hành kinh doanh thường nhật, đặc biệt là đối với doanh nghiệp đa quốc gia trong các lĩnh vực như IT, e-commerce, tài chính và công nghệ cao. Hầu như mọi hoạt động kinh tế mà trong đó có ứng dụng inte et đều phải lệ thuộc vào việc thu thập, chuyển giao, xử lý thông tin dữ liệu của khách hàng, cá nhân, người tiêu dùng, thông tin kinh doanh….. “ Không chuyển giao được dữ liệu, không có thương mại ” [1] hoàn toàn có thể trở thành một rào cản thực tiễn cho thương mại xuyên biên giới quốc gia. Vấn đề là tại sao các quốc gia lại phải cản trở việc chuyển giao dữ liệu xuyên biên giới quốc gia trong khi việc này là cực kỳ cần thiết cho hoạt động thương mại quốc tế? Câu trả lời đó chính là quyền riêng tư và an ninh mạng. Thực vậy, mỗi quốc gia sẽ có những giá trị văn hóa khác biệt nhau đối với hai phạm trù này, ở đâu, vấn đề quyền riêng tư được coi như là quyền con người thì các quy định về quyền riêng tư cũng sẽ khắc khe hơn. [2] Để thực hiện mục tiêu này, ý tưởng hạn chế dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới, yêu cầu kỹ thuật khi lưu chuyển dữ liệu hay kể cả là yêu cầu người thu thập dữ liệu phải đặt dữ liệu tại lãnh thổ quốc gia của mình sẽ giúp quốc gia đó bảo vệ được khối dữ liệu (bao gồm cả các dữ liệu về cá nhân và phi cá nhân) khỏi những hành vi xâm phạm cả về quyền riêng tư và an ninh mạng, điều có thể sẽ khiến các thương nhân phải đầu tư nhiều hơn để đáp ứng. Chung quy lại, trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, quốc gia luôn phải cân nhắc hai khía cạnh, một mặt là tự do hơn trong việc tiếp cận dữ liệu để thu hút đầu tư, phát triển thương mại nhưng mặt còn lại là những giá trị cốt lõi về quyền riêng tư, an ninh mà quốc gia cần phải bảo vệ. Việt Nam cũng không ngoại lệ khi phải đối mặt với vấn đề này, đặc biệt là trong khuôn khổ những hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Một trong những các cam kết mới mà Việt Nam phải thực hiện là những quy định liên quan đến lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới. Việt Nam phải mở cửa tự do dich chuyển dữ liệu như thế nào và tác động của nó đối với hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam ra sao sẽ là những vấn đề sẽ được phân tích trong bài viết này.   [1] “No Transfer, No trade” theo cách gọi của Kommerskollegium, National Board of Trade trong No Transfer, No trade – The importance of Cross-border Data Transfers for Companies Based in Sweden, Fisrt Edition, 01-2014, . ISBN: 978-91-86575-76-2. [2] Gloria O. Pasadilla. Next generation non-tariff measure: Emerging data policies and barriers to digital trade, ARTNeT Working Paper Series No. 187, January 2020, Bangkok ESCAP.

Part 1: Overview of New-Gen FTAs

Nhận thức được vai trò quan trọng của công chúng trong việc thực thi các quy tắc phi thương mại, một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đã đưa vào cơ chế cho sự tham gia của công chúng. Các cơ chế này tiếp tục được bổ sung và thực thi bởi luật pháp trong nước của một số bên, trong đó có Hoa Kỳ hoặc Liên minh Châu Âu. Vì vậy, bài viết tập trung làm rõ nội dung các cơ chế liên quan cũng như phân tích một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi thực hiện các cơ chế này. Từ khóa: công khai; quy tắc phi thương mại; thực hiện; Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam

Tóm tắt: Các hiệp định thương mại của “thế hệ mới” được biết đến là nỗ lực lồng ghép nhận thức của con người về môi trường và biến đổi khí hậu nhằm tìm sự cân bằng với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, những nỗ lực này chỉ có thể đạt được bằng cách áp dụng các quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp, chẳng hạn như các tiêu chuẩn về đối xử và bảo vệ nhà đầu tư, các ngoại lệ đối với quyền điều chỉnh của nước sở tại. Vì ngôn ngữ của các điều khoản này không rõ ràng và có thể tạo ra nhiều cách giải thích, nên các khu vực pháp lý quốc gia có xu hướng viện dẫn “Đối tượng và Mục đích” của hiệp ước để đưa ra cách giải thích phù hợp về “ý nghĩa thông thường” của một quy tắc nhất định. Mục tiêu “Phát triển bền vững” được kỳ vọng sẽ là yếu tố giải thích quan trọng nhằm tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Tuy nhiên, bản thân khái niệm này đang gây tranh cãi. Bài viết này đề xuất một mục tiêu khác, cùng với “công cụ” của nguyên tắc thiện chí, có thể giúp cân bằng các lợi ích xung đột và đảm bảo giải thích nhất quán các quan điểm quốc tế. hiệp ước đầu tư quốc tế Từ khóa: phát triển bền vững, thiện chí, giải thích quốc tế các hiệp định đầu tư quốc tế

Ngoài phạm vi rộng hơn và mức độ cam kết sâu hơn, việc đưa vào các vấn đề phi thương mại là một đặc điểm chính của chế độ các FTA thế hệ mới, đặc biệt là các FTA của EU. Dù hợp tác với các nền kinh tế phát triển hay đang phát triển, EU vẫn nhất quán trong việc “xuất khẩu” các giá trị của mình như phát triển bền vững, quản lý tốt. và nhân quyền cho các đối tác thương mại của mình. Nghịch lý hay không, các hiệp định thương mại tự do của EU lại là công cụ hỗ trợ thúc đẩy các vấn đề phi thương mại trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mặc dù vậy, mức độ mà các điều khoản về vấn đề phi thương mại này có thể thay đổi hoàn cảnh tương ứng ở các nước đang phát triển vẫn chưa chắc chắn. Bài viết này nhằm mục đích phân tích cơ sở lý luận và mục đích của EU trong việc đưa các vấn đề phi thương mại vào các FTA của mình, hiểu rõ tác động pháp lý do các điều khoản này tạo ra và đánh giá tác động của chúng trong việc duy trì và bảo vệ các giá trị phi thương mại ở các nước đối tác của EU. Lấy ví dụ về các FTA thế hệ mới của EU, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù EU có tham vọng xuất khẩu nhiều loại giá trị phi thương mại, nhưng các điều khoản này thực tế khiến việc thực thi phụ thuộc vào thiện chí của các bên và việc bảo vệ các giá trị phi thương mại vẫn mang tính chính trị trong khi các cơ chế xử phạt không phải lúc nào cũng được cung cấp. Ngoài ra, những hiểu biết sâu sắc về lý do để các đối tác thương mại của EU, đặc biệt là các nước ASEAN, chấp nhận các quy tắc phi thương mại trong các FTA thế hệ mới của Liên minh cũng sẽ được phân tích. Từ khóa: Liên minh châu Âu, vấn đề phi thương mại, FTA thế hệ mới, giá trị châu Âu, hài hòa hóa pháp luật, ASEAN

Tóm tắt: Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO) được thành lập năm 1995 trên cơ sở các cam kết thương mại đa phương giữa các Quốc gia Thành viên với mong muốn trở thành một tổ chức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và xóa bỏ các rào cản thương mại. Sau 25 năm hình thành và phát triển, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, WTO còn phải đối mặt với nhiều thách thức trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21, điển hình là sự gia tăng liên kết kinh tế khu vực và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ mới ở các nước phát triển. Vai trò ngày càng tăng của các Hiệp định Thương mại Tự do ở cấp độ song phương và khu vực, đặc biệt là các hiệp định thế hệ mới, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thương mại thế giới đang thay đổi dẫn đến sự chậm lại của các cuộc đàm phán đa phương. Các hiệp định này bao gồm các cuộc đàm phán và cam kết truyền thống vượt xa các quy định hiện hành của WTO liên quan đến lợi ích công cộng, thúc đẩy các quốc gia ký kết thực hiện các điều chỉnh chính sách trong nước. Bài viết này tập trung phân tích tác động của việc thực hiện các cam kết về lao động và môi trường của Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) Liên minh Châu Âu - Việt Nam - hiệp định thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, đối với chính sách đối nội của Việt Nam. Sau đó, nó đưa ra một số đề xuất nhằm tối đa hóa lợi ích thu được từ việc tham gia một thỏa thuận như vậy. Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, đàm phán thương mại đa phương, EVFTA, các biện pháp phi thuế quan, lao động, môi trường.

Trước sự bế tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO) về vấn đề tự do hóa thương mại đa phương toàn cầu, các nước đã thiết lập khu vực thương mại tự do bằng cách ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các vấn đề rộng hơn so với các hiệp định thương mại tự do truyền thống như phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng, lao động, nhân quyền... Theo xu hướng đó, Việt Nam đã tham gia đàm phán, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với nhiều đối tác như Liên minh châu Âu (EVFTA) hay các nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương (CPTPP). Các FTA mới này không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế, thương mại của Việt Nam mà còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trong bài viết này, tác giả sẽ đưa ra những vấn đề tổng quát nhất về các FTA thế hệ mới, từ đó phân tích tác động của các FTA này tới việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Việt Nam hiện tại và tương lai. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận và đề xuất phù hợp. Từ khóa: FTA; chính sách; pháp luật; sự va chạm; Việt Nam.

Part 2: Labour in FTAs

Bài viết này tập trung nghiên cứu việc lồng ghép các quy định về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là EVFTA và CPTPP. Tác giả nhằm mục đích trả lời các câu hỏi sau: Việc tích hợp này có góp phần làm giảm sự “phân mảnh” của mạng inte không? luật pháp cũng như tác dụng phụ của nó? Việc tích hợp này có giúp bảo vệ quyền lao động tốt hơn không?

Tóm tắt Bài viết này thảo luận về sự tương tác giữa các điều khoản phi thương mại và phi thương mại (nhân quyền). Vai trò và vị trí của quyền con người trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong bối cảnh Tổ chức Thương mại Thế giới và quốc tế pháp luật quốc tế, Liên minh Châu Âu, Việt Nam và Canada được xem xét cụ thể. Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do (FTA), điều khoản phi thương mại, nhân quyền, Tổ chức Thương mại Thế giới, Liên minh Châu Âu, Việt Nam, Canada.

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến cam kết xóa bỏ lao động cưỡng bức trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu - Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á-Âu (VN-EAEU FTA). Đặc biệt, bài viết cũng tập trung phân tích, đánh giá cũng như nhận xét những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam và các FTA này về xóa bỏ lao động cưỡng bức, từ đó đưa ra một số gợi ý để thực hiện hiệu quả cam kết này.

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thông qua việc tích cực tham gia mạng lưới các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Gần đây hơn là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA. Để các nội dung Việt Nam cam kết tại 2 Hiệp định trên được triển khai hiệu quả trên thực tế, Việt Nam cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật theo lộ trình. Điều này có tác động đáng kể đến hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam vì một trong những nội dung quan trọng của hai Hiệp định là về lao động với trọng tâm là: i) Tự do hiệp hội và công nhận cơ bản quyền thương lượng tập thể, ii) Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức, iii) Loại bỏ hiệu quả lao động trẻ em, iv) Chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Trong đó, quyền tự do hiệp hội của người lao động là nội dung cam kết được đặc biệt quan tâm vì đây là điểm mới mà hệ thống pháp luật lao động Việt Nam trước đây chưa ghi nhận cụ thể. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ trình bày một số điểm tác động của Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA đến quyền tự do hiệp hội của người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết được cấu trúc gồm ba phần: i) Quyền tự do hiệp hội của người lao động theo Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA; ii) Tác động của Hiệp định CPTPP và EVFTA đến quy định của pháp luật lao động Việt Nam về quyền tự do hiệp hội của người lao động; iii) Trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mở rộng quyền tự do hiệp hội cho người lao động theo các hiệp định CPTPP và EVFTA.

Part 3: Environment in FTAs

Biến đổi khí hậu từ lâu đã được thảo luận bởi các quốc gia cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về chính sách biến đổi khí hậu trong nhiều thập kỷ qua, mối liên hệ giữa thương mại và biến đổi khí hậu hiếm khi được Chính phủ chú ý. ment. Do đó, thực tiễn pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO) cho thấy các quy tắc thương mại môi trường của tổ chức này có thể giúp đáp ứng các mục tiêu chống biến đổi khí hậu (mặc dù các quy tắc liên quan của WTO chỉ xuất hiện dưới dạng ngoại lệ chung và chỉ có nội dung chung). Khi Vòng đàm phán Doha bị đóng băng do các quốc gia thành viên WTO không thể thống nhất về các quy tắc mới cho hệ thống thương mại toàn cầu, các quốc gia đã hướng tới các hiệp định thương mại. Các hiệp định song phương và khu vực (FTA) thế hệ mới nhằm mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại giữa các quốc gia thành viên. Không những vậy, họ còn quy định nhiều vấn đề thương mại phi truyền thống, yêu cầu chính phủ chịu trách nhiệm về chính sách môi trường, hạn chế khả năng cạnh tranh của các sản phẩm gây biến đổi khí hậu thông qua các quy định yêu cầu các nước duy trì cơ chế xử lý sản phẩm phù hợp với lượng khí thải thải ra trong quá trình sản xuất. Bài viết này sẽ đánh giá các cam kết của Việt Nam về quản lý biến đổi khí hậu trong khuôn khổ CPTPP và EVFTA, hai FTA thế hệ mới quan trọng nhất của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam sẽ có biện pháp và hành động tích cực hơn trong việc chống biến đổi khí hậu (như hoàn thiện cơ chế mua bán khí thải, bảo vệ và chống suy thoái rừng, tăng cường tiết kiệm năng lượng, công nghệ phát thải thấp và năng lượng tái tạo, minh bạch thông tin và cơ chế tham vấn). Thông qua phân tích các quy định của EVFTA và CPTPP về biến đổi khí hậu, bài viết sẽ phân tích sâu sắc khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về quản lý biến đổi khí hậu, đặc biệt là Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số khuyến nghị đối với pháp luật môi trường của Việt Nam nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả các FTA.

Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới, với nhiều loại hình hệ sinh thái tự nhiên, sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu. Đa dạng sinh học ở Việt Nam mang lại lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng. Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái môi trường và suy thoái các hệ sinh thái do quá trình công nghiệp hóa. EVFTA và CPTPP đưa ra các quy định quan trọng về bảo vệ đa dạng sinh học. Các hiệp định thừa nhận chủ quyền đối với tài nguyên quốc gia và quyền quyết định việc tiếp cận nguồn gen thuộc về chính phủ. của mỗi quốc gia và tuân theo luật pháp trong nước. Họ phải nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn gen theo đúng mục đích; tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn gen phải có sự đồng ý trước của nhà cung cấp, trừ khi được nhà nước tương ứng cung cấp. Ngoài ra, Việt Nam phải tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin với các bên ký kết khác về chiến lược, sáng kiến, chính sách, chương trình, kế hoạch hành động và chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng nhằm ngăn chặn sự biến mất của đa dạng sinh học và giảm áp lực đa dạng sinh học. Bài viết này sẽ phân tích thực trạng cam kết đa dạng sinh học của Việt Nam trong EVFTA và CPTPP và xác định những thách thức đối với chính phủ Việt Nam. góp phần tăng cường luật pháp quốc gia về đa dạng sinh học.

Trong bối cảnh nhận thức ngày càng cao về vai trò quan trọng của hợp tác thương mại ở các cấp độ và góc độ khác nhau, việc thúc đẩy ký kết các FTA thế hệ mới với phạm vi sửa đổi vượt ra ngoài các vấn đề thương mại cơ bản là cần thiết. Các FTA thế hệ mới đã tạo ra những cơ hội và thách thức cho hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có các quy định về lĩnh vực môi trường. Bài viết này nhằm mục đích phân tích tác động của các FTA thế hệ mới tới sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quản lý bền vững tài nguyên rừng. Từ đó đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các cam kết về môi trường trong các FTA mà Việt Nam là thành viên.

Tóm tắt: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu đều bao gồm các cam kết về bảo vệ môi trường trong nội bộ các nước. thương mại quốc tế. Do đó, các bên ký kết các hiệp định như vậy phải tuân thủ đồng thời các nghĩa vụ tự do hóa thương mại và nghĩa vụ bảo vệ môi trường theo các hiệp định môi trường đa phương (MEA). Tuy nhiên, làm thế nào để áp dụng biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ môi trường mà không vi phạm các cam kết thương mại trong CPTPP và EVFTA? Nghiên cứu một số tranh chấp thương mại và môi trường viện dẫn Điều XX của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) có thể đưa ra một số gợi ý. Từ khóa: cam kết, cân bằng, môi trường, phát triển bền vững, thương mại

Từ khóa: commitments, balancing, environment, sustainable development, trade

Tóm tắt Đầu tư nước ngoài và bảo vệ môi trường là trọng tâm của sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, inte tranh chấp đầu tư liên quan đến vấn đề môi trường ngày càng gia tăng. Hoạt động tranh chấp đã cho thấy rằng quyền quản lý môi trường của nhà nước, vốn thuộc về chủ quyền của nhà nước, có thể bị thách thức bởi khiếu nại về việc vi phạm nghĩa vụ bảo hộ đầu tư và yêu cầu bồi thường của các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, inte truyền thống Các hiệp định đầu tư quốc tế thường quy định nghĩa vụ của quốc gia sở tại đối với đầu tư nước ngoài, nhưng hiếm khi đưa nghĩa vụ đối xứng của nhà đầu tư nước ngoài vào việc bảo vệ môi trường ở quốc gia sở tại. Điều này tạo ra sự mất cân bằng giữa nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế này đặt ra nhu cầu cấp thiết về một công cụ cân bằng quyền và lợi ích của nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những công cụ được kỳ vọng sẽ góp phần hòa giải, tạo cơ sở vững chắc hơn để nước chủ nhà theo đuổi mục tiêu môi trường bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế, đó là các quy định về môi trường trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Bài viết này sẽ phân tích vai trò của các quy định về môi trường trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong việc dung hòa sự bất cân xứng giữa quyền của nhà đầu tư nước ngoài và quyền quản lý môi trường của nhà nước. Từ khóa: quy định về môi trường, quyền điều tiết, dung hòa sự bất cân xứng, đầu tư nước ngoài, hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, Quốc hội Việt Nam đã phủ quyết Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và trở thành thành viên thứ bảy của hiệp định. Việc tham gia hiệp định được đánh giá mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho Việt Nam, nhưng bên cạnh đó, điều này cũng để lại nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề tuân thủ các cam kết môi trường trong Hiệp định này. Xuất phát từ thực tế đó, bài viết tập trung vào (i) phân tích, làm rõ một số cam kết môi trường trong CPTPP, (ii) chỉ ra một số thách thức của Việt Nam trong việc tuân thủ thực hiện các cam kết môi trường trong Hiệp định này, (iii) từ đó đưa ra một số khuyến nghị cuối cùng. Từ khóa: Hiệp định CPTPP, thực hiện cam kết, bảo vệ môi trường, Việt Nam.

Part 4: Other Non-Trade Benefits

Inte et đang thay đổi cách chúng ta vận hành thương mại quốc tế. Bên cạnh các khía cạnh thương mại truyền thống như thương mại hàng hóa, dịch vụ và khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ, sự tồn tại của thương mại dữ liệu là không thể phủ nhận. Khả năng truyền dữ liệu xuyên biên giới quốc gia trở thành một phần quan trọng trong hoạt động và phát triển kinh doanh hàng ngày, đặc biệt đối với các doanh nghiệp đa quốc gia trong các lĩnh vực như CNTT, thương mại điện tử, tài chính và công nghệ cao. Hầu như tất cả các hoạt động kinh tế có inte et phải phụ thuộc vào việc thu thập, chuyển giao và xử lý dữ liệu của khách hàng, cá nhân, người tiêu dùng, thông tin doanh nghiệp…. “Không chuyển nhượng, không giao dịch” có thể trở thành rào cản thực tế đối với thương mại xuyên biên giới. Câu hỏi đặt ra là tại sao các quốc gia phải cản trở việc truyền dữ liệu xuyên biên giới khi điều đó là cần thiết cho hoạt động liên mạng. thương mại quốc tế? Câu trả lời là quyền riêng tư và an ninh mạng. Hạn chế các luồng dữ liệu xuyên biên giới, các yêu cầu kỹ thuật đối với luồng dữ liệu hay thậm chí yêu cầu người thu thập dữ liệu đặt dữ liệu trong lãnh thổ quốc gia của họ để đảm bảo bảo vệ khối dữ liệu đó. Trong thời điểm hiện tại Trong bối cảnh thương mại quốc tế, đất nước luôn phải cân nhắc hai khía cạnh, một là tự do hơn trong việc tiếp cận dữ liệu để thu hút đầu tư và phát triển thương mại, nhưng mặt khác là những giá trị cốt lõi phải bảo vệ, đó là quyền riêng tư và bảo mật. Khi nói đến quyền riêng tư và bảo mật trong Inte et, đặc biệt với sự tồn tại của khuôn khổ các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Trong CPTPP và EVFTA, Việt Nam đã đưa ra cam kết mới liên quan đến các quy định về truyền dữ liệu xuyên biên giới. Bài viết này sẽ xem xét tác động của các cam kết này đối với pháp luật Việt Nam.

Thương mại thực phẩm chiếm một phần quan trọng trong thương mại toàn cầu và người tiêu dùng trong nước ngày càng thừa nhận ed về sự an toàn của thực phẩm nhập khẩu. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nay được đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là một mô hình mới của các hiệp định thương mại siêu khu vực, nhằm đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại và đảm bảo quyền được bảo vệ sức khỏe nói chung và quyền có thực phẩm an toàn nói riêng của công dân các quốc gia thành viên. Vì vậy, CPTPP quy định nhiều quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) của các thành viên hơn so với quy định của Hiệp định SPS. Những quy tắc này có thể được gọi là “SPS plus”. Bài viết phân tích sự phát triển của “SPS plus” trong các hiệp định thương mại khu vực (RTA); thể hiện “SPS plus” trong quy định về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học trong CPTPP; cơ hội và thách thức trong việc thực hiện yêu cầu “SPS plus” về đánh giá rủi ro và bằng chứng khoa học khi ban hành các quy định đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam.

Bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu đã trở thành vấn đề lớn của các bên đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Việt Nam nói riêng. Mới đây, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), trong đó đề xuất thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như một giải pháp thay thế hiệu quả. năng lượng truyền thống bị ô nhiễm. Chương VII EVFTA ghi nhận rõ ràng các cam kết của các bên trong việc hợp tác hướng tới xóa bỏ hoặc giảm bớt các rào cản phi thuế quan và thúc đẩy hợp tác, có tính đến các yếu tố khu vực và quốc tế khi thích hợp. tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài các cam kết tự do hóa thương mại, Điều 7.6 Chương VII còn quy định các trường hợp ngoại lệ đối với các thành viên để bảo vệ vấn đề phi thương mại của quốc gia. Bài viết sẽ trình bày một số vấn đề phi thương mại của Việt Nam trong thương mại và đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo, sau đó đánh giá mức độ bảo hộ các vấn đề nêu tại Chương VII EVFTA.

Tóm tắt: Sự xuất hiện và lây lan nhanh chóng trên toàn cầu của virus SARs-Covi-2 cùng với sự tàn phá nghiêm trọng đối với sức khỏe con người đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải thực hiện hàng loạt biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và an ninh quốc gia. Những biện pháp này, từ quan điểm của inte luật đầu tư quốc gia, có thể bị coi là hành vi tước đoạt tài sản của nhà đầu tư nước ngoài nếu các biện pháp đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đầu tư và do đó áp đặt trách nhiệm bồi thường thỏa đáng cho Nước sở tại. Trong bối cảnh này, học thuyết quyền lực cảnh sát có thể được viện dẫn để ngăn chặn yêu cầu bồi thường từ các nhà đầu tư, vốn được phát triển và áp dụng trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên như CP-TPP và EVFTA. Tuy nhiên, liệu học thuyết này có thể được áp dụng hay không khi xem xét biện pháp mà một quốc gia áp dụng để kiểm soát đại dịch hay không còn tùy thuộc vào các điều khoản cụ thể của hiệp định bảo hộ đầu tư và cách giải thích chúng.  Bài viết này thảo luận về vấn đề bảo vệ sức khỏe cộng đồng lồng ghép lợi ích công cộng để áp dụng học thuyết quyền lực của cảnh sát trong bối cảnh quốc tế. đầu tư quốc tế, khi các quốc gia ngày càng chú ý đến việc duy trì không gian chính sách nhằm đảm bảo quyền quản lý của mình, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Bài viết cũng sẽ đánh giá tầm quan trọng của học thuyết này trong thực tiễn đàm phán quốc tế. các hiệp định đầu tư quốc tế, đặc biệt là các hiệp định mà Việt Nam là thành viên, nhằm khuyến khích các nước đánh giá lại chính sách, chiến lược phát triển nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Từ khóa: COVID-19, CPTPP, EVFTA, quyền lực cảnh sát, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, inte đầu tư mang tính quốc tế.

Tóm tắt Do tác động trên quy mô toàn cầu của đại dịch COVID-19, các nhà đầu tư đã chứng kiến xu hướng ngày càng tăng việc Nước sở tại áp dụng các tình trạng khẩn cấp quốc gia để chống lại khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện nay, hệ thống bảo hộ đầu tư trong Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) - Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mới xuất hiện đang nỗ lực chuyển sự cân bằng giữa lợi ích công và quyền của nhà đầu tư sang trạng thái cân bằng hơn cả về mặt thủ tục và nội dung, một số quy định pháp lý liên quan đến phạm vi quyền điều chỉnh của Nhà nước trong phạm vi quyền lực cảnh sát của mình trong một số tình huống “cần thiết” được cho là quá mơ hồ để đảm bảo làm cơ sở cho biện pháp khẩn cấp của Nhà nước. Ở đây đặt ra câu hỏi trong bối cảnh đại dịch là liệu các điều khoản đầu tư trong FTA đó có phải là biện pháp bảo vệ pháp lý hiệu quả để Quốc gia sở tại giải quyết các khiếu kiện trọng tài do nhà đầu tư nước ngoài đưa ra hay không. Do đó, bài viết phân tích bản chất và hậu quả pháp lý từ các biện pháp khẩn cấp của nước chủ nhà được áp dụng trong đại dịch COVID-19 theo Hiệp định quốc tế về luật đầu tư quốc tế, nhằm đánh giá và đề xuất các lá chắn tiềm năng theo CPTPP chống lại các khiếu nại của trọng tài đối với nước chủ nhà trong bối cảnh gây nhiều tranh cãi như vậy. Từ khóa: FTA thế hệ mới, CPTPP, biện pháp khẩn cấp, đại dịch Covid-19, phòng vệ pháp lý, mục tiêu phúc lợi công chính đáng, quyền lực công.

Tóm tắt: Trong đại dịch COVID-19, xung đột giữa quyền tiếp cận thuốc như một quyền cơ bản của con người và lợi ích kinh tế của thương mại quốc tế trở nên rõ rệt hơn. Các nhà phát triển đang nỗ lực hết mình trong cuộc đua tìm vắc-xin cho dịch bệnh, trong khi các bang đang nỗ lực đảm bảo dự trữ dược phẩm cho nhu cầu trong nước bằng cách thực hiện hạn chế/cấm xuất khẩu dược phẩm được coi là thiết yếu để chống lại Covid-19, cũng như ban hành các quy định về cấp phép bắt buộc đối với dược phẩm. Những biện pháp này rất nhạy cảm xét về các khía cạnh khác nhau của luật thương mại quốc tế như thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư quốc tế, đặc biệt khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có những điều khoản cụ thể mà các nước thành viên cần lưu ý. Bài viết này sẽ phân tích quyền tiếp cận thuốc trong đại dịch Covid-19 với các tham chiếu cụ thể đến các quy định của các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và CPTPP, nhằm mục đích bảo vệ quyền tiếp cận thuốc. những hành động trong tương lai của Việt Nam với tư cách là thành viên của các cơ chế thương mại tự do này. Từ khóa: quyền tiếp cận thuốc, Covid-19, sở hữu trí tuệ, inte thương mại quốc tế, WTO, CPTPP.

Bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu đã trở thành vấn đề lớn của các bên đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và Việt Nam nói riêng. Mới đây, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), trong đó đề xuất thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như một giải pháp thay thế hiệu quả. năng lượng truyền thống bị ô nhiễm. Chương VII EVFTA ghi nhận rõ ràng các cam kết của các bên trong việc hợp tác hướng tới xóa bỏ hoặc giảm bớt các rào cản phi thuế quan và thúc đẩy hợp tác, có tính đến các yếu tố khu vực và quốc tế khi thích hợp. tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài các cam kết tự do hóa thương mại, Điều 7.6 Chương VII còn quy định các trường hợp ngoại lệ đối với các thành viên để bảo vệ vấn đề phi thương mại của quốc gia. Bài viết sẽ trình bày một số vấn đề phi thương mại của Việt Nam trong thương mại và đầu tư vào sản xuất năng lượng tái tạo, sau đó đánh giá mức độ bảo hộ các vấn đề nêu tại Chương VII EVFTA.